Bệnh Viêm Teo Mũi trên Heo - Rhinitis Atropica Suum | Vetshop VN


Bệnh Viêm Teo Mũi trên Heo - Rhinitis Atropica Suum

Post by: | date: 23.10.13 Bình luận cho bài viết! | Print
Xương mũi heo bị teo một bên do bệnh.
Xương mũi heo bị teo một bên do bệnh.

1.Giới thiệu bệnh

Viêm teo mũi lợn là một bệnh truyền nhiễm, bênh có biểu hiện đặc trưng là viêm cata mũi và xoang mũi gây teo sống mũi hoặc làm cong bã mía mũi.

2. Nguyên nhân

Trước đây có rất nhiều giả thiết về nguyên nhân gây bệnh. Một số tác giả cho rằng bệnh có tính di truyền ở một số giống lợn ngắn mũi và xảy ra dưới tác động của quá trình trao đổi chất do thiếu vitamin A, protein tiêu hóa, thừa vitamin D, nhưng lại thiếu vitamin PP hoặc thiếu canxi, thừa photpho. Tất cả nguyên nhân trên đều liên quan tới quá trình trao đổi canxi, photpho và ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình hình thành sụn và xương mía. Hậu quả gây biến dạng sống mũi và bã mía mũi,…

Những năm 70-80 của thế kỷ trước, các nhà khoa học lại cho rằng nguyên nhân là virus gây viêm tao mũi nguyên phát, ngay sau đó các vi khuẩn thường trú như Mycoplasma, Necrobacterium, Streptococcus,… đua nhau tác động có hại lên niêm mạc mũi và gây ra viêm mũi, xoang mũi làm teo mũi.

Ngày nay, các nhà khoa học đã chứng minh căn nguyên gây bệnh là do vi khuẩn Bordetalla bronchiseptica và Pasteurella multocida typ D (căn nguyên có khả năng sinh độc tố gây bệnh tụ huyết trùng) là thủ phạm gâu viêm teo mũi.

Cả hai loại vi khuẩn này đều là những vi khuẩn thường trú tại amidal và niêm mạc đường hô hấp trên. Do đó, bệnh chỉ xảy ra ở đàn lợn mới hoặc có các yếu tố stress thúc đẩy.
Bordetalla bronchisepticaPasteurella multocida typ D đều là những vi khuẩn Gram âm, dễ bị tiêu diệt bởi ánh sáng mặt trời, hoặc các thuốc sát khuẩn thông thường như Cresyl 5%, nước vôi 10%, Formol 1,5-2 %, B.K.Vet. 1% PVP.iodine 10%, Derosan,…

3. Đặc điểm dịch tễ

Lợn và các loài gia súc khác đều có thể mắc bệnh nhưng lợn là động vật mẫn cảm nhất.

Lợn ở lứa tuổi 1-3 tuần là mẫn cảm nhất. Sau khi bị nhiễm 2-3 tuần là chúng có khả năng lây truyền sang các con khác. Lợn lớn có sức đề kháng tốt hơn. Có những đàn lợn mang trùng như bệnh không xảy ra.

Bệnh gắn liền với các yếu tố stress bất lợn như : chăn nuôi mật độ đông, chuồng nuôi chứa nhiều lợn khác tuổi, tiểu khí hậu chuồng nuôi nhiều CO2,NH3,… độ ẩm cao, gió lùa, … là các yếu tố gây viêm tắc đường hô hấp trên, khi đó các vi khuẩn nêu trên có điều kiện phát triển và gây bệnh.

Các đàn lợn nuôi với thức ăn nghèo đạm, mất cân bằng Ca/P và nguyên tố vi lượng thì bệnh xuất hiện nặng và nhiều hơn. Vi khuẩn gây bệnh có khả năng tăng mức độ cường độc qua mỗi lứa lợn nên bệnh xảy ra với tần suất cao hơn ở những trại nuôi nhiều lứa tuổi lợn và không áp dụng các ly khi san đàn, nhập đàn hoặc chuyển giống.

Dù là bệnh truyền nhiễm song bệnh có tốc độ lây lan không lớn, tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào nhiều mức độ vệ sinh và chăm sóc chăn nuôi.

Bệnh chỉ truyền ngang, không truyền dọc và qua đường tiếp xúc trực tiếp là chủ yếu ( đường miệng, đường hô hấp).

4. Cơ chế sinh bệnh

Thông thường, vi khuẩn gây bệnh ký sinh trong các lớp niêm mạc đường hô hấp trên nhưng chúng không gây bệnh. Chỉ khi có các yếu tốt stress tác động. đặc biệt thời tiết thay đổi, chế độ dinh dưỡng, chuồng ẩm,…. Các vi khuẩn mới tăng độc lực và gây bệnh. Chúng phá hủy cấu trúc của các tế bảo niêm mạc đường hô hấp trên rồi xâm nhập vào sâu tận màng sụn, màng xương gây viêm cata- viêm tiết dịch, phá hủy cấu trúc sụn, xương mũi làm mũi ngắn lại, xương sống mũi bị cong vênh, xoang mũi, xoang trán bị viêm nhầy mủ. Lợn bệnh rất khó thở do ngạt mũi. Từ đây, lợn bệnh có các biểu hiện khác nữa phụ thuộc mức độ thời gian kéo dài của bệnh.

5. Triệu chứng lâm sàng

5.1. Thể cấp tính

Heo bị vẹo mũi (teo mũi)
Heo bị vẹo mũi (teo mũi)
Bệnh thấy phổ biến nhất ở lợn con theo mẹ từ 1-3 tuần tuổi. Lúc đầu bệnh thường xuất hiện cấp tính và đột ngột bằng việc hắt hơi, sổ mũi, viêm tiết dịch, ngay sau đó nước mũi chuyển sang nhầy mủ và chảy ra từ cả hai lỗ mũi.

Đôi khi còn quan sát được thấy cả hiện tượng chảy nước mắt hoặc chảy máu cam từ mũi. Do đó, ta thấy máu dính trên da lợn khác hoặc trên chuồng nuôi.

Thân nhiệt hầu như bình thường, nếu có sốt là sốt nhẹ không cao hơn 40 độ C.

10 - 15 ngày sau các triệu chứng viêm mũi cấp tính nêu trên dần biến mất, lợn được chăm sóc tốt sẽ tự khỏi, còn lại chuyển sang mãn tính.

5.2. Thể mãn tính

Vách ngăn mủi không đều
Vách ngăn mủi không đều
  • Lợn còi cọc, chậm lớn so với lợn khỏe.
  • Hàm trên ngắn và biến dạng. Sống mũi chậm phát triển và cong vênh.
  • Ngay trên xương mũi thấy rõ nhiều nếp nhăn bất thường.
  • Hiện tượng này càng rõ khi lợn đạt 3- 4 tháng tuổi, cả sống mũi vẹo sang 1 bênh , lợn bệnh ăn uống khó, khó khăn khi nhai thức ăn. Lợn càng còi và chậm lớn. Một số con khó thở, lỗ mũi bị tịt bởi nước mũi và khi đó lợn phải thở bằng mồm.
Bệnh dễ bị các vi trùng khác gây bệnh thứ phát, đặc biệt là các khuẩn gây viêm phổi hoặc viêm dính màng phổi.

Tỷ lệ chết dao động 1- 10%. Nếu bị bội nhiễm thì tỷ lệ chết cao hơn.

6. Bệnh tích

Các bệnh tích tập trung ở cơ quan hô hấp, gan và tai.

Giai đoạn đầu lúc mới bị bệnh thì chỉ thấy niêm mạc đường hô hấp trên tụ huyết không đều, niêm mạc dày lên và nhiều chỗ nhăn nheo được phủ một lớp dịch mũi. Sụn mũi, xương bã mía và vách ngăn mũi bị mềm. Gan sưng to có màu vàng do thoái hóa mỡ.

Giai đoạn sau, mũi bị teo, niêm mạc mũi mỏng, màu loang lổ, trên bề mặt phủ nhiều nhầy mũi mủ. Trong xoang mũi, xoang trán cũng có nhiều nhầy mủ. Vách sống mũi rất mỏng và biến dạng, nhiều trường hợp có viêm mủ ở phế quản phổi, viêm mủ tai giữa và tai trong. Gan bị thoái hóa nặng dẫn đến xơ gan.

7. Chẩn đoán

  • Bệnh xảy ra ở lợn con theo mẹ.
  • Giai đoạn đầu lợn hay hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi, chảy máu cam.
  • Giai đoạn sau: mõm ngắn, hàm trên biến dạng, xương bã mía cong vênh.
Nếu nghi ngờ thì tiến hành phân lập vi khuẩn gây bệnh.

8. Chẩn đoán phân biệt

Bệnh viêm teo mũi phân biệt với các bệnh

8.1. Viêm phổi địa phương do Mycoplasma và các vi khuẩn khác

Bệnh viêm phổi địa phương hay còn gọi là suyễn, thường xảy ra ở lợn 2-3 tuần tuổi. Bệnh hầu như không xảy ra ở lợn dưới 2-3 tuần tuổi với các triệu chứng của viêm phổi, viêm phố quản- phổi, nhưng không có dấu hiệu của viêm teo mũi, biến dạng hàm trên, viêm tai và biến đổi gan.

8.2. Viêm mũi truyền nhiễm do Bacterium pyocianeumNecrobacillus

Bệnh luôn xảy ra cấp tính với các biểu hiện hoại tử sụn mũi và các xoang mũi, lợn sốt cao và chết nhanh trong 3- 6 ngày khi bùng phát.

9. Điều trị

Bệnh dễ dàng điều trị khỏi bởi các kháng sinh mà vi khuẩn Gram âm nhạy cảm.Nếu nước mũi chảy ra có nhiều mủ, đặc biệt mủ xanh có mùi thối thì ngày tiêm hai lần với kháng sinh bài thảy nhanh + thuốc trợ hô hấp và thuốc làm tan đờn cho thú.Nếu viêm mũi bội nhiễm với bệnh suyễn thì phải dùng thêm một trong các thuốc điều trị suyễn lợn.
Chú ý:
  • Nên điều trị sớm trước khi bội nhiễm và điều trị dứt điểm để không xảy ra bội nhiễm với suyễn lợn và không để suyễn lợn chuyển sang mãn tính.
  • Điều trị bằng thuốc gắn liền với nâng cao điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng.

10. Phòng bệnh

  • Phòng bệnh phải tiến hành biện pháp tổng hợp từ chăn nuôi lợn nái chửa đến lúc sinh con và nuôi con.
  • Chú ý vệ sinh phòng bệnh tốt cho nái đẻ trước khi lên chuồng đẻ, thời đẻ và giữ ấm khô cho lợn sơ sinh.
  • Không san đàn, chuyển chuồng khi lợn con còn theo mẹ. Khi cai sữa phải cai đúng nguyên tắc, nên để lại đàn con ở chuồng cũ thêm 5- 7 ngày nữa trước khi chuyển chuồng.
  • Trong thời gian đó nên sử dụng một trong các thuốc kháng sinh và thuốc bổ để phòng bệnh xảy ra.
PGS -TS Lê Văn Năm



Receive articles via Email!

In bài nàyPrint Download post as *.pdfDownload post as *.pdf


Bản tin mới nhất

Download Tài Liệu CN-TY

 
Trang chủ | Về đầu trang ↑
Vetshop VN® được thành lập năm 2013
Bản tin chăn nuôi | Chăm sóc chó mèo | Chẩn đoán bệnh | Bệnh trên heo | Bệnh chó mèo | Bệnh gà | Bệnh trâu bò
Thuốc thú y | Dụng cụ chăn nuôi | Thiết bị thú y | Tài liệu chăn nuôi thú y |
Quy trình chăn nuôi | Kỹ thuật thú y | Nuôi thú cưng | Thiết bị chuồng trại | Dụng cụ thú y | Kỹ thuật chăn nuôi | Sách chăn nuôi thú y