Dinh Dưỡng Động Vật Và Miễn Dịch ( Phần II) | Vetshop VN


Dinh Dưỡng Động Vật Và Miễn Dịch ( Phần II)

Post by: | date: 18.8.13 Bình luận cho bài viết! | Print
Sự hình thành miễn dịch. Ảnh minh họa.
Sự hình thành miễn dịch. Ảnh minh họa.
Trong 40 năm qua, tiềm năng di truyền năng suất của gia cầm đã được cải thiện vượt bậc. Nhiều kiến thức mới về dinh dưỡng, trao đổi chất cũng như sinh trưởng, sinh sản đã được tích lũy. Ảnh hưởng của mức dinh dưỡng và FCR đã được khám phá. Hơn thế nữa những tiến bộ đáng kể về thuốc thú y, phương tiện, phương pháp chuẩn đoán, chương trình vaccin cũng đã được cải thiện. Nhưng quan trọng hơn đó là chất lượng thông tin (ví dụ trong lãnh vực dịch tễ học), tất cả các tiến bộ đó đã tạo nên sự hỗ trợ rất lớn cho người chăn nuôi .

Các công ty giống đang điều phối các quy trình cho gà đẻ trứng, cho gà giống và gà thịt để đạt tối ưu hoá lợi nhuận.

Tuy nhiên, trong chăn nuôi hiện đại, tỷ lệ chết vẫn cao do hậu quả của các stress tăng lên đã làm giảm doanh thu với người chăn nuôi. Các stress đã tác động trực tiếp lên hệ thống miễn dịch của gia súc dẫn đến bệnh xảy ra thường xuyên hơn và sinh trưởng giảm.

Do đó, hiện nay kiểm soát bệnh càng trở nên quan trọng hơn trong các trang trại chăn nuôi thâm canh. Phòng ngừa bệnh phải được xem xét ưu tiên. Vấn đề này bao gồm các biện pháp vệ sinh, chương trình dùng Vaccin và thông tin các biện pháp an toàn sinh học khác.

Tuy nhiên thường thì bảo vệ đàn gia súc bằng cách chủng vaccin, vệ sinh chuồng và các trang thiết bị vẫn chưa đủ. Các sử dụng thuốc hóa liệu hoặc kháng sinh cho cả phòng và trị bệnh . Nhưng dùng thuốc chỉ là một lựa chọn của giải pháp mà không quan tâm tới vấn đề lớn của cộng đồng về tồn dư thuốc trong các sản phẩm chăn nuôi.

Mặc dù nhiều tiến bộ đạt được thì rất nhiều bằng chứng cho thấy năng lực của miễn dịch tự nhiên trong toàn bộ quá trình kiểm soát bệnh. Không một sản phẩm hóa dược nào có thể can thiệp đạt giá trị cao nếu hệ miễn dịch không được đồng thời tăng cường. Mặt khác vẫn còn chưa biết nhiều về ảnh hưởng dinh dưỡng lên hệ thống miễn dịch. Mặc dù một số khoáng (như Chromium) và Vitamin (như Vitamin C) có thể tăng cường được chức năng miễn dịch này.

Các chất tăng cường sinh học.

ARN và Nucleotide chưa thực sự định nghĩa như một chất dinh dưỡng cần thiết. Các chất dinh dưỡng cần cho một loạt hệ chức năng bình thường mà không thể tổng hợp bởi cơ thể. Do đó nó phải được thu nhận từ nguồn thức ăn và được phân loại như một chất dinh dưỡng cần thiết.
Có thể tin rằng lâu nay, ở tất cả các cơ thể sống, theo con đường tái sử dụng Nucleotide thông qua tế bào chết đã cung cấp Nucleotide đầy đủ cho mọi nhu cầu sinh lý. Tuy nhiên, hiện nay điều này có lẽ không đúng.

Chức năng quan trọng nhất cuả các Nucleotide là lưu giữ thông tin di truyền cần thiết cho sao chép, cần để tối ưu hoá các chức năng sinh lý và cả trong quá trình phân chia tế bào. Sự sinh sản tế bào và các chức năng sinh học là cấp bách phụ thuộc vào sự có mặt đầy đủ về Nucleotide hay không. Chỉ một tế bào mới sinh ra cần ba triệu nucleotide sẵn có.

Thực tế thấy rằng một cơ thể sống cần phải tạo ra hàng hàng triệu tế bào sống mỗi giây để duy trì hoạt động sống bình thường. Như thế trong thời gian mà vật nuôi bị Stress cao, sinh trưởng, sinh sản mạnh, bệnh tật hay biến động bất thường của môi trường, thì hàng tỷ Nucleotide phải hoàn toàn ở trạng thái tự do cho hoạt động đối phó này. Tuy nhiên việc tổng hợp Nucleotide thì thấp, chậm và là gánh nặng về trao đổi chất và do đó ảnh hưởng lên toàn bộ năng suất của các vật nuôi .

Vì vậy, vai trò của Nucleotide trong việc vượt qua các Stress dù đơn lẻ hay đồng thời sẽ có một giá trị xác nhận là ARN/ Nucleotide là chất dinh dưỡng cần thiết có điều kiện.

Nucleotide là hợp chất hoá học bao gồm ba thành phần chính : một gốc base dị vòng, đường và một hay nhiều gốc phốt phát.

Trong đại đa số các gốc kiềm trong Nucleotide có nguồn gốc từ Purine hay Pyrimidine và đường là đường có năm carbon (Pentose). ARN/ nucleotide cung cấp một khuôn mẫu cho sự sinh sản của tế bào cho cả thế giới động vật và thực vật.

Sự sinh sản liên tục của tế bào là điều kiện tiên quyết cho sinh trưởng và sửa sai, làm lành và nhiều chức năng xuất sắc khác của các mô có chức năng điều khiển trong cơ thể ( ví dụ hệ thống miễn dịch).

Cải thiện về dinh dưỡng.

Về cơ bản, hệ miễn dịch có khả năng thiết lập các hàng rào bảo vệ của cơ thể chống lại vi trùng gây bệnh cho cơ thể bao gồm: Hệ thống bảo vệ của da, đặc biệt kích thích tạo các đại thực bào và các dạng protein có chức năng bảo vệ đặc biệt .

Hàng rào bảo vệ đầu tiên là hàng rào bảo vệ của da, tế bào màng nhầy của ruột, nó có thể chống lại sự xâm nhập các vi khuẩn vào cơ thể. Tổn thương các tế bào này sẽ tạo điều kiện xâm nhập vi khuẩn vào cơ thể và cần thiết phải được làm lành sớm nhất nếu có thể. Lý do sự bổ sung vào cơ thể ARN/ Nucleotide là duy trì cho sự hoàn chỉnh của hàng rào này, làm nhanh sự đáp ứng của hệ thống miễn dịch.

Hệ thống miễn dịch thu được bao gồm các phản ứng nhớ của các tế bào đặc biệt cái mà được hoạt hoá trong và sau khi có tiếp cận lần đầu với vi khuẩn, vi rút và ký sinh trùng.

Nói chung, quá trình đáp ứng miễn dịch được hoạt hoá là làm tăng sinh hàng triệu tế bào chuyên biệt, cũng như hoạt hoá các loại Protein có chức năng đặc biệt. Sự hoạt hoá đó có nhanh và mạnh khi trong cơ thể có đủ ARN/ Nucleotide tự do trong cơ thể .

Phát triển hệ thống đường ruột.

Sự phát triển đường ruột dựa trên khẩu phần có bổ sung ARN/Nucleotide đã được nghiên cứu trên một số loài vật nuôi.

Gà một ngày tuổi cho ăn một khẩu phần có ARN/ Nucleotide trong vòng 10 ngày cho thấy có sự phát triển hệ thống Villi trong màng nhầy của ruột đạt 4 ngày sớm hơn so với đối chứng . Điều này không chỉ làm tăng lên bề mặt hoạt động của đường tiêu hoá mà còn cho thấy phát triển hệ thống Enzyme cũng sớm hơn. Kết quả của sự phát triển phối hợp đã làm cho gia súc chống đỡ tốt hơn với các loại vi trùng và ký sinh trùng đường ruột.

Hệ thống miễn dịch và tình trạng của nó.

Có nhiều nghiên cứu về vai trò bổ sung ARN/ Nucleotide trong gia cầm lên hệ thống miễn dịch đã được công nhận. Ví dụ, xác định hàm lượng kháng thể sau khi chủng Vaccin NDV trên gà Hubbard.

Bảng 1 : Sự phát triển đường ruột của gà con .
Chiều dài của Vili màng nhầy ruột.
Ngày tuổi      ARN/ Nucleotide      Đối chứng            Sự khác biệt
10                 170.62 +/- 0.27       121,59 +/- 0.27      + 40.32
14                 179,17 +- 0.16        170,03 +/- 0.16      + 5.37 

Diện tích của Vili màng nhầy ruột.
10                 23.18 +/- 3.65          15.62 +/- 3.72        + 48.39
14                 24.88 +/- 5.37          24.96 +/- 5.10        + 0.00

Bổ sung ARN/Nucleotide đã làm tăng rất nhanh hàm lượng kháng thể đã chuẩn độ so với đối chứng bất luận là bổ sung ARN/ Nucleotide trước hay đồng thời với chủng Vaccin. Khi đó hàm lượng kháng thể cao và ổn định lâu hơn so với đối chứng. Tuy nhiên nhiều công bố là bổ sung trước khi chủng vaccin.

Cũng trong thí nghiệm trên khi cho lây nhiễn virut NDV, nhóm không bổ sung chỉ 65% số gà được chủng bảo vệ khỏi sự nhiễm virut. Trong lô thí nghiệm, bổ sung ARN/ Nucleotide đã được bảo vệ tăng 80-90% số gà khỏi bị dịch.

Trong thí nghiệm tiến hành trên gà giống thịt để kiểm tra năng suất, khi bị lây nhiễm cầu trùng, tiếp theo là IB và Marek . Khi bị lây nhiễm ba loại này thì kết quả cũng cho thấy sự khác biệt lớn trong nhóm gà nhận được khẩu phần có bổ sung ARN/Nucleotide: Tỉ lệ chết giảm 67%. Sản lượng trứng tăng 13.8%. Và tỷ lệ ắp nở tăng 11.6%.

Điều này chứng tỏ sức kháng bệnh của gà được hổ trợ bởi dùng bổ sung vào khẩu phần ARN/Nucleotide giúp gà đối phó tốt với bệnh mà vẫn duy trì năng suất chấp nhận được.

Sự hỗ trợ hệ thống miễn dịch tạo nên sự ổn định về năng suất và cuối cùng là tăng lên lợi tức cho người chăn nuôi .

Theo quan điểm của nhà sinh lý học: hệ thống miễn dịch của cơ thể là một trong những hệ thống phải được cân bằng với các hệ thống chức năng khác. Các gánh nặng tổn hại về sức khoẻ sẽ điều biến gia cầm theo hướng sống còn, giảm năng suất sản phẩm và cuối cùng là giảm doanh thu với người chăn nuôi.

Kết luận.

ARN/Nucleotide là khuôn mẫu của cuộc sống và làm đa dạng cho mọi hoạt động sống của tế bào, làm nhanh chóng quá trình đáp ứng miễn dịch, làm tăng sự sinh sản của tế bào liên quan tới chức năng miễn dịch tự nhiên và miễn dịch dịch thể. Nó là một hợp chất tự nhiên, khi được cân bằng thì hoạt động kích thích miễn dịch tự nhiên và thu được của nó không giống như B Glucan và không bị quá liều.

Bằng cách cung cấp nguồn nguyên liệu cho sự sinh sản thường xuyên của tế bào, cho sự biểu hiện của gen và thông tin, chúng có phản ứng nhanh chóng và hiệu quả đối với mọi thách thức về sức khoẻ và cũng không gây bất cứ một phản ứng tiêu cực tại chỗ nào giống như hiện tượng kháng thuốc.

Công dụng của Nucleotide không giới hạn theo loài và phạm vi áp dụng với hiệu quả nhiều mặt làm đa dạng chức năng của cơ thể sống tạo cho chúng như là một công cụ quản lý sức khoẻ lý tưởng và ngăn chặn Stress , cải thiện năng suất và khống chế bệnh dịch .

Xem thêm:
  1. Nucleotide Trong Dinh Dưỡng Và Miễn Dịch Vật Nuôi ( Phần I)
  2. Các Trại Nuôi Heo Có Tối Đa Năng Suất Được Không ( Phần III)



Receive articles via Email!

In bài nàyPrint Download post as *.pdfDownload post as *.pdf


Bản tin mới nhất

Download Tài Liệu CN-TY

 
Trang chủ | Về đầu trang ↑
Vetshop VN® được thành lập năm 2013
Bản tin chăn nuôi | Chăm sóc chó mèo | Chẩn đoán bệnh | Bệnh trên heo | Bệnh chó mèo | Bệnh gà | Bệnh trâu bò
Thuốc thú y | Dụng cụ chăn nuôi | Thiết bị thú y | Tài liệu chăn nuôi thú y |
Quy trình chăn nuôi | Kỹ thuật thú y | Nuôi thú cưng | Thiết bị chuồng trại | Dụng cụ thú y | Kỹ thuật chăn nuôi | Sách chăn nuôi thú y