Hệ Thống Bài Tiết Của Gia Cầm | Vetshop VN


Hệ Thống Bài Tiết Của Gia Cầm

Post by: | date: 15.8.13 Bình luận cho bài viết! | Print
Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.
Trong quá trình bài tiết, cơ thể thải ra: các sản phẩm cặn bã cuối cùng của trao đổi chất; Các chất được tích tụ thừa trong cơ thể (nước, gluco, các muối và các chất khác); Các chất lạ xâm nhập từ ngoài vào cơ thể (các thuốc màu, chất độc ….).

Sự bài tiết các chất không cần thiết cho cơ thể động vật được thực hiện một phần do phổi (qua không khí thở ra); ống tiêu hoá (các kim loại nặng, nước, các chất sắc tố, các biểu mô bị tróc ra, các chất protein …) qua phân; da và các tuyến của da (nước, các sản phẩm có chứa nitơ và chất béo, các muối …) qua tuyến bã, tuyến mồ hôi - phần này ở gia cầm rất hạn chế); qua thận (nước, chất khác có nguồn gốc nội sinh và ngoại sinh qua nước tiểu).
Hệ thống bài niệu Hệ thống bài niệu ở gia cầm có những điểm đặc biệt về hình thái học: tiểu cầu thận (tiểu cầu malpighi) ít bị phân nhánh, không có những ống uốn khúc loại thứ hai (các ống uốn khúc xạ và các núm lồi thận, các nephron được sắp đặt ở trong lớp vỏ cũng như trong lớp tuỷ, bể thận (pelvis ranalis) không có, không có cả bóng đái, các niệu quản (ureter) được bắt đầu trong các tiểu thuỳ và kết thúc ở ổ nhớp.

Tính chất và thành phần nước tiểu của gia cầm cơ bản khác với của động vật có vú. Trung bình, độ đậm đặc của nước tiểu ở gà là 1,005; ở vịt 1,0018; ở ngỗng 1,004. Độ pH của nước tiểu là trung tính, kiềm nhẹ hoặc axit nhẹ. Khi gia cầm bị đói, nước tiểu kiềm, khi được nuôi bằng thức ăn nhiều protein thì nước tiểu sẽ có phản ứng axit.

Các chất hữu cơ trong nước tiểu có chứa axit uric, urê, creatin, cretinin, amoniac, các axiTamin, axiTornituric, guanin. Khác với động vật có vú, sản phẩm có nitơ cơ bản của nước tiểu gia cầm không phải là urê mà là axit uric. Thành phần của nó ở vịt chiếm 77,88% nitơ của nước tiểu, còn ở gà 85,86% (bảng 1.3). Axit uric được tạo ra ở gan và là sản phẩm cơ bản cuối cùng của sự trao đổi protein. Do phôi chim phát triển trong vỏ bọc nhỏ và kín của trứng, lại không có sự hỗ trợ của cơ thể mẹ (theo kiểu hoạt động của nhau thai) nên rất cần thiết sao cho các sản phẩm cuối cùng của trao đổi chất phải được cô đặc. Axit uric thoả mãn yêu cầu này tốt hơn urê, vì urê ở nồng đồ cao thì độc. Axit uric ở phôi được tích tụ trong xoang túi niệu. Sau khi nở, túi niệu đã khô, cùng với các sản phẩm bài tiết, nó được giữ lại trong vỏ nên không gây độc cho gia cầm non. Cũng vì tính chất kết tủa nhanh của axit uric ngay sau khi được tạo ra nên gia cầm không thể tích nước tiểu trong bàng quang mà phải thải ngay nó vào phân, đó chính là lý do ở loài chim, sản phẩm trao đổi cuối cùng của protein là axit uric và không có bóng đái.

Thành phần vô cơ của nước tiểu vịt và gà (theo Salagin và Kribuge, 1986)
Thành phần hóa họcVịt
100g tro có chứa (g)Trong 1ngày đêm bài tiết được (mg)Trong 100 ml nước tiểu (mg)100g tro có chứa (g)Sau 1 ngày đêm bài tiết được (mg)Trong 100 ml nước tiểu (mg)
CaO2,36731,19,9335,2391
MgOCác dấu vết--Các dấu vết--
K2O7,0418,883,66,0821,6240
Na2O12,2333,8145,714,350564,7
P2O571,3191848,965,23231566,8
Cl24,471253,34,3915,6173,3
CO3075,6336079,9799

Khi nghiên cứu cấu trúc vi thể của nước tiểu, người ta thấy có các hạt nước tiểu nhỏ cấu tạo từ axit uric, chúng có hình dạng không lớn (kích thước gần như các hồng cầu) có cấu tạo dạng tia, xung quanh được kết hợp với nhau bởi chất nhầy và tạo nên một lớp màng đặc thù màu xám trắng trên phân. Nếu sự trao đổi chất bị phá vỡ, axit uric được tạo thành nhiều đến nỗi nó có thể lắng đọng ngay trên bề mặt thận, gan và tim, bịt kín các đường dẫn nước tiểu và có thể dẫn đến cái chết.

Số lượng urê, creatin và creatinin trong nước tiểu gia cầm là không đáng kể. Nồng độ của chúng được tăng lên chỉ khi nào sự trao đổi chất bị phá vỡ, cụ thể là khi không có đủ các vitamin nhóm B. Guamin được tìm thấy trong nước tiểu của gia cầm chỉ khi nào nuôi chúng bằng bột cá.

Bài tiết nước tiểu  được tạo ra trong thận, nước tiểu đi vào các niệu quản. Sự chuyển động của nó theo các niệu quả tạo điều kiện cho những co bóp có nhịp điệu của chúng. Các cơ của các niệu quản thực hiện từ 3 - 6 lần co trong 1 phút. Ở nơi các niệu quản đi vào ổ nhớp có các cơ thắt. Các dây thần kinh giao cảm làm co các cơ này và làm mềm vách niệu quản, tạo điều kiện giữ nước tiểu lại trong niệu quản. Khi kích thích các dây thần kinh phó giao cảm, các cơ thắt được mở ra, các niệu quản bị co bóp và đẩy nước tiểu đi vào ổ nhớp.


Receive articles via Email!

In bài nàyPrint Download post as *.pdfDownload post as *.pdf


Bản tin mới nhất

Download Tài Liệu CN-TY

 
Trang chủ | Về đầu trang ↑
Vetshop VN® được thành lập năm 2013
Bản tin chăn nuôi | Chăm sóc chó mèo | Chẩn đoán bệnh | Bệnh trên heo | Bệnh chó mèo | Bệnh gà | Bệnh trâu bò
Thuốc thú y | Dụng cụ chăn nuôi | Thiết bị thú y | Tài liệu chăn nuôi thú y |
Quy trình chăn nuôi | Kỹ thuật thú y | Nuôi thú cưng | Thiết bị chuồng trại | Dụng cụ thú y | Kỹ thuật chăn nuôi | Sách chăn nuôi thú y