Bệnh Cầu Trùng Trên Chó, Mèo | Vetshop.VN


Sửa

Bệnh Cầu Trùng Trên Chó, Mèo

Đăng bởi: | ngày: 31.3.15 Bình luận cho bài viết! | In bài này
Kén hợp tử của Isospora canisCầu trùng là ký sinh trùng nội bào thường được tìm thấy trong đường ruột. Họ Apicomplexa Phylum, lớp Sporozoasida, ngành Eucoccidiorida, Eimeriidae, Cryptosporidiidae, hoặc Sarcocystida. Cầu trùng lây nhiễm chó và mèo là Isospora, Hammondia, Besnoitia, Sarcocystis, Caryospora, Toxoplasma Neospora, Cryptosporidium và loài Cyclospora. Cầu trùng được tìm thấy phổ biến trong các động vật ăn cỏ, chim và động vật gặm nhấm và được tìm thấy trong phân của chó và mèo, các hợp tử ký sinh tồn tại trong ruột của chó mèo. Một số ký sinh cầu trùng trên chó vẫn không được phân loại.

Tất cả cầu trùng sinh sản vô tính và một chu kỳ tính dục. Ở một số chi, chẳng hạn như Sarcocystis, chu kỳ sinh sản vô tính và tính dục xảy ra ở các nơi khác nhau, trong khi ở Isospora cả chu kỳ có thể xảy ra trong cùng môt vật chủ. Kén hợp tử được bài tiết trong phân của vật chủ. Một chu kỳ sống của cầu trùng được mô tả như sau: Kén hợp tử được truyền trong phân và có một nucleotide đơn - chúng tiết ra thể bào tử . Sau khi tiếp xúc với nhiệt độ môi trường ấm (20°C đến 37°C [ 68°F đến 98,6 F]) kén hợp tử sinh bào tử, tạo thành hai nang bào tử. Trong mỗi nang bào tử có bốn thoi trùng hình. Các thoi trùng có hình dạng chuỗi và là giai đoạn gây nhiễm bệnh. Chúng có thể sống sót trong môi trường ngoài, được bảo vệ bên trong kén hợp tử trong nhiều tháng. Mèo hoặc chó sau khi ăn phải kén hợp tử, tạo thoi trùng trong ruột. Trong nhân thoi trùng chia thành hai, ba, hoặc nhiều hạt nhân, tùy thuộc vào loài ký sinh trùng và các giai đoạn của chu kỳ. Sau khi phân chia hạt nhân, mỗi nhân được bao quanh bởi tế bào chất, tạo thành một merozoite. Số lượng merozoites từ một phân ra từ hai đến vài trăm, tùy thuộc vào giai đoạn của chu kỳ và các loài cầu trùng. Merozoites được phân liệt khi vỡ tế bào chủ. Merozoites thế hệ đầu tiên lặp lại chu kỳ sinh sản vô tính và hình thành thể phân đôi thế hệ thứ hai hoặc biến thành giao tử đực và giao tử cái. Các tế bào giao tử chia thành nhiều giao tử nhỏ. Vòng đời được hoàn thành khi kén hợp tử được bài tiết trong phân.

Hình 1: Vách kén hợp tử (OW). Hai nang bào tử chiếm hầu hết kén hợp tử. Mỗi nang có một bức tường mỏng (SW), bốn thoi trùng(S), và một thể dư sporocystic (SR).
Hình 1: Vách kén hợp tử (OW). Hai nang bào tử chiếm hầu hết kén hợp tử. Mỗi nang có một bức tường mỏng (SW), bốn thoi trùng(S), và một thể dư sporocystic (SR).

1. Loài Isospora

Thành viên của chi Isospora, phổ biến nhất được công nhận là loại cầu trùng lây nhiễm ở chó hoặc mèo. Ít nhất bốn loài Isospora canis, Isospora Ohioensis, Isospora Burrowsi,Isospora Neorivolta  lây nhiễm con chó và hai loài Isospora Felis, Isospora Rivolta lây nhiễm mèo. Chu kỳ sống của Isospora ở chó và mèo lây nhiễm cũng tương tự như chu kỳ cơ bản cầu trùng ở ruột, ngoại trừ một chu kỳ vô tính cũng có thể xảy ra trong các vật chủ trung gian. Khi gặp vật chủ phù hợp, kén hợp tử hiện diện trong mật, và thoi trùng xâm nhập vào ruột. Một số thoi trùng xuyên qua thành ruột và đi vào các hạch bạch huyết mạc treo ruột hoặc các mô ngoài ruột khác (ví dụ, lá lách và gan), nơi chúng hình thành u nang đơn bào. Những u nang có thể xem như một nguồn tái nhiễm đường ruột và tái phát của bệnh cầu trùng ruột. Ăn phải nang trong vật chủ dẫn đến nhiễm trùng đường ruột ở chó và mèo. Chu kỳ sống sau khi ăn phải vật chủ cũng giống như sau khi ăn phải kén hợp tử hình thành nên bào tử từ phân.

Hình 2: Mô nang của Isospora Ohioensis trong hạch bạch huyết mạc treo ruột của một con chuột thí nghiệm bị nhiễm. Các thoi trùng (S) được bao quanh bởi một bức tường u nang (CW).
Hình 2: Mô nang của Isospora Ohioensis trong hạch bạch huyết mạc treo ruột của một con chuột thí nghiệm bị nhiễm. Các thoi trùng (S) được bao quanh bởi một bức tường u nang (CW).

1.1 Khám lâm sàng

Nhiễm cầu trùng có thể không có bệnh tích lâm sàng. Động vật nhiễm bệnh thường được tìm thấy trong trại nuôi mèo hoặc cũi (nuôi nhốt chó, mèo) nơi mà động vật tập trung đông. Dấu hiệu lâm sàng rõ ràng nhất ở động vật còn nhỏ. Dấu hiệu lâm sàng của bệnh đường ruột không phổ biến trừ khi một số lượng lớn kén hợp tử bị thú nhỏ tuổi ăn phải (dưới 1 tháng) hoặc con vật bị ức chế miễn dịch. Chán ăn, nôn, ủ rũ và cuối cùng là chết trên thú bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

1.2 Trị bệnh

Điều trị thường được chỉ định trên chó cái và chó con mới sinh vì mức độ nghiêm trọng của triệu chứng lâm sàng ở độ tuổi này. Nếu bị tiêu chảy hoặc mất nước nặng, điều trị bằng truyền dịch tiêm phải được xem xét như một biện pháp hỗ trợ. Truyền máu có thể cần thiết khi kết quả xuất huyết đường ruột nghiêm trọng gây thiếu máu. Sulfonamides từ lâu đã là thuốc được lựa chọn để điều trị bệnh cầu trùng.

Bảng 1: Thuốc điều trị bệnh cầu trùng ttre6n chó và mèo
Bảng 1: Thuốc điều trị bệnh cầu trùng trên chó và mèo

1.3 Phòng ngừa

Bệnh cầu trùng xảy ra trong môi trường thiếu vệ sinh. Tuy nhiên, một khi cũi bị nhiễm kén hợp tử từ thú bệnh sẽ rất khó khăn để loại bỏ được mầm bệnh. Do đó, phải vệ sinh cũi hàng ngày, không nên cho thú ăn thịt chưa nấu chín. Kiểm soát côn trùng là điều cần thiết vì gián và ruồi là vật chủ trung gian của kén hợp tử.

2. Loài Sarcocystis

Nhiễm trùng do Sarcocystis spp. là phổ biến trong các loài bò sát, chim và động vật máu nóng, hầu như tất cả bò và cừu bị nhiễm ký sinh trùng này. Hơn 90 loài Sarcocystis đã được xác định. Động vật ăn thịt là vật chủ chính và động vật ăn cỏ là vật chủ trung gian. Ký sinh trùng hình thành u nang mô trong cơ bắp và các mô thần kinh của các vật chủ trung gian. Một số loài Sarcocystis lây truyền qua chó gây bệnh ở gia súc, cừu, dê, lợn và hươu con, trong khi các loài lây truyền qua những con mèo thường không gây bệnh.

Hình 3: Bệnh tích mô học do sarcosystis
Hình 3: Bệnh tích mô học do sarcosystis
Hơn 20 loài Sarcocystis lây nhiễm chó và mèo. Nó không thể phân biệt các loài trên cơ sở đo lường của bào tử nang. Sarcocystis được bài tiết trong phân hình thành bào tử đầy đủ. Nó nhỏ và không dày đặc.

Hình 4: Chu kỳ sinh học của Sarcocystis
Hình 4: Chu kỳ sinh học của Sarcocystis
Loài Sarcocystis không gây bệnh cho đường ruột ở chó hoặc mèo, vì vậy không cần thiết điều trị. Nhiễm trùng có thể được ngăn ngừa bằng cách nấu chín tất cả thức ăn cho động vật. Thỉnh thoảng, sarcocysts được tìm thấy trong cơ xương của mèo và chó nhà bị ức chế miễn dịch, nhưng vòng đời của chúng là không rõ.

Nếu có copy bài, xin để lại một link sống về trang này. Xin cám ơn
Nguồn: Vetshop VN
Theo: Infectious Diseases of The Dog and Cat - 4th Edition (Huỳnh Phi Vũ dịch)
Để biết thêm thông tin truy cập http://www.greeneinfectiousdiseases.com




Đăng ký nhận bài viết qua Email!

In bài nàyIn bài này Tải xuống dạng PDFTải định dạng PDF


Bản tin mới nhất

Quy trình chăn nuôi

 
Trang chủ | Hướng dẫn | Thanh toán | Vận chuyển | Bảo hành | Đổi - Trả | Về đầu trang ↑
Bản quyền nội dung trên trang thuộc vềVetshop.VN® 2013
Để tôn trọng quyền tác giả, xin ghi rõ tên tác giả và nguồn bài viết khi phát hành lại thông tin trên trang này.
Bản tin chăn nuôi | Chăm sóc chó mèo | Chẩn đoán bệnh | Bệnh trên heo | Bệnh chó mèo | Bệnh gà | Bệnh trâu bò
Sản phẩm chăn nuôi | Thuốc thú y | Dụng cụ chăn nuôi | Thiết bị thú y | Tài liệu chăn nuôi thú y | Sản phẩm cho chó mèo
Quy trình chăn nuôi | Kỹ thuật thú y | Nuôi thú cưng | Thiết bị chuồng trại | Dụng cụ thú y | Kỹ thuật chăn nuôi | Sách chăn nuôi thú y