Bệnh Bò Điên (Bovine Spongiform Encephalopathy) | Vetshop.VN


Sửa

Bệnh Bò Điên (Bovine Spongiform Encephalopathy)

Đăng bởi: | ngày: 14.8.13 Bình luận cho bài viết! | In bài này
Bệnh bò điên. Ảnh minh họa.
Bệnh bò điên. Ảnh minh họa.
TÓM TẮT
Bệnh bò điên (BSE) là bệnh thần kinh gây tử vong ở bò trưởng thành, được ghi nhận đầu tiên ở Anh Quốc năm 1986. Đây là bệnh nhũn não truyền nhiễm hay bệnh do prion (dịch tạm là tiền virus). Nguyên mẫu của nhóm bệnh này là bệnh ngứa điên (scrapie) của cừu và dê (xem Chương 2.7.12 Bệnh ngứa điên).

Dịch tễ học của bệnh BSE có thể giải thích bằng phơi nhiễm đường miệng đối với một tác nhân giống như tác nhân gây bệnh ngứa điên, có trong protein lấy từ loài nhai lại ở chất liệu bột thịt và xương, bao gồm các chiết xuất cô đậm hay các chất bổ sung trong thức ăn chăn nuôi.

Các trường hợp đầu tiên của BSE trong một số quốc gia mà bị coi là kết quả của việc xuất khẩu bò bệnh từ Anh Quốc hay bị vấy nhiễm với bột thịt xương, mặc dù việc xuất khẩu từ các quốc gia khác cũng có liên can đến. Ở nhưng quốc gia khác, các trường hợp ban đầu rõ ràng là từ bản địa, mà không có liên quan rõ rệt với việc nhập khẩu bột thịt xương, cho thấy rằng các trường hợp mới, không phát hiện thấy có thể đã từng xuất hiện. Do kết quả của các biện pháp kiểm soát, dịch tễ của bệnh trong nhiều quốc gia đã được dập tắt. Các trường hợp BSE hiện nay xảy ra chủ yếu ở Châu Âu và đã phát hiện thấy ở Châu Á và Bắc Mỹ.

Khả năng truyền lây thực nghiệm của BSE trên bò đã chứng minh được sau khi gây phơi nhiễm theo đường nhu mô và đường miệng, bởi mô não của bò bị nhiễm bệnh. Tác nhân gây BSE cũng được tin rằng từ nguồn thông thường, qua đường thức ăn, của các bệnh truyền nhiễm gây bệnh tích nhũn não (transmissible spongiform encephalopathies – TSEs) trong một số loài thú nhai lại và trong các loài thuộc họ mèo (felidae). Ở đây có bằng chứng về liên kết nguyên nhân giữa tác nhân gây BSE với dạng biến thể TSE ở người, là bệnh Creutzfeldt-Jakob (vCJD).

Các khuyến cáo đối với các cảnh báo an toàn trong quản lý các chất liệu bị nhiễm BSE hiện nay cho rằng BSE là bệnh từ thú vật lây cho người và được chỉ định là mầm bệnh khu trú nhóm 3 (với mức độ giảm nhẹ).

Nhận diện tác nhân gây bệnh: Trong Anh Quốc, bệnh BSE đã có tác động đỉnh điểm trên bò ở lứa tuổi từ 4 đến 5 tuổi. Tiến trình lâm sàng thì biến đổi, nhưng có thể kéo dài đến vài tháng. Các dấu hiệu lâm sàng rõ rệt là đủ để phân biệt và dẫn đến nghi ngờ về bệnh này, đặc biệt khi các chẩn đoán phân biệt bị hạn chế. Các dấu hiệu sớm có thể không rõ và chủ yếu về tập tính, và có thể dẫn đến việc tiêu hủy thú vật mắc bệnh trước khi BSE khởi phát. Trong các quốc gia mà có chính sách luật phát quy định với bệnh này, các trường hợp nghi ngờ sẽ bị tiêu hủy, được kiểm tra não và tiêu hủy xác chết.

Ngày nay, trong hầu hết các quốc gia, giám sát chủ động phát hiện bò bị nhiễm trước khi, hay không có, nhận thấy các dấu hiệu lâm sàng. Không có xét nghiệm chẩn đoán hiện có nào đối với tác nhân gây BSE trên thú sống. Bản chất của các tác nâhn gây TSE hiện chưa rõ. Một loại bệnh đặc trưng về tế bào có protein màng PrPc, nguyên gốc là PrPSc, có phần nào đề kháng với protease, mất nếp gấp ở dạng tương đồng, là tiêu chí quan trọng trong sinh bệnh học của bệnh và có liên quan đến giả thuyết về prion là thành phần nguyên tắc hay duy nhất của tác nhân gây nhiễm. Việc chẩn đoán xác nhận, trước kia bằng kiểm tra mô bào học trên não, thì ngày nay, áp dụng các phương pháp hóa miễn dịch mô bào (immunohistochemical – IHC) và/hoặc hóa miễn dịch (immunochemical) đối với mô não để phát hiện PrPSc. PrPSc có thể phát hiện được trong vị trí cơ thể học thần kinh đặc trưng (specific neuroanatomical loci) trong hệ thần kinh trung ương của bò bị nhiễm bệnh, bằng các phương pháp IHC đối với chất liệu đã được cố định bằng formalin, hay bằng các phương pháp xét nghiệm thấm thấu miễn dịch (immunoblotting) và các phương pháp miễn dịch enzyme khác (enzyme immunoassay), sử dụng các chiết xuất não không cố định bằng hóa chất.

Sự truyền lây từ mô não bị nhiễm, thường theo đường thông thường hay biến đổi gen qua chuột (transgenic mice), là phương pháp thực hành duy nhất hiện nay có được để phát hiện khả năng gây nhiễm và có vai trò quan trọng trong xác nhận hay phân loại các dòng tác nhân gây bệnh. Các biến thể hay các dạng không điển hình của BSE đã được phát hiện trên các lục địa khác nhau mà đã từng gặp phải bệnh BSE cổ điển. Trong khi bối cảnh chính của các kiểu hình không điển hình đã dựa vào mô hình thấm thấu dải cầu Tây (western immunoblot banding pattern), việc phân loại theo xét nghiệm sinh học đối với một số dòng phân lập cho ra bằng chứng nổi bật về khả năng biến thể của dòng đối với hiện diện bình thường của prion trong bò nhiễm bệnh.

Các xét nghiệm huyết thanh học: Các đáp ứng miễn dịch đặc hiệu không phát hiện được trong các trường hợp TSE.

Các yêu cầu đối với vaccin và các chẩn đoán sinh học: Hiện nay không có các chế phẩm sinh học. Các bộ kit chẩn đoán thương mại đối với BSE hiện có và được sử dụng để chẩn đoán BSE trong nhiều quốc gia.

A. MỞ ĐẦU

BSE là bệnh gây tử vong cho bò thuần hóa, các trường hợp BSE được ghi nhận ban đầu ở Anh Quốc vào tháng Mười một 1986 (27, 37). Bệnh là một dạng bệnh tích nhũn não truyền nhiễm (transmissible spongiform encephalopathy – TSE) hay bệnh do prion (dịch tạm là dạng tiền virus), có nguồn gốc điển hình ở các loài thú vật là bệnh ngứa điên ở cừu. Các bệnh do prion được định nghĩa là bệnh tích tích tụ, về nguyên tắc và bản chất, trong hệ thần kinh trung ương (central nervous system – CNS) và biến thể hơn trong hệ thống lưới lâm ba (lymphoreticular system – LRS), tích tụ này là dạng protein đồng nhất, dành riêng cho màng tế bào được mã hóa bởi ký chủ (PrPc), và được thiết kế nguyên gốc là PrPSc, protein này bị mất nếp gấp (misfolded), phần nào đề kháng với protease. Chức năng của PrPc vẫn chưa được rõ. PrPSc là đại phân tử đặc trưng duy nhất cho bệnh được nhận diện trong bệnh giống với bệnh ngứa điên (scrapie disease). Protein này cũng có khả năng biến đổi và được gọi là PrPres, để lưu ý đến đặc tính có đề kháng với proteinase của protein gây bệnh, PrPd đặc trưng với bệnh và PrPbse đặc biệt trong BSE.

Ở đây PrPSc được áp dụng phổ biến để chỉ đến đồng dạng (isoform) bất thường PrPc. Quan điểm khoa học thích hợp cho là tác nhân này bao gồm nguyên dạng đặc trưng cho bệnh của PrP và dạng này được thay thế thành dạng có khả năng khiến tạo chuyển hóa của dạng bình thường: giả thuyết về chỉ là protein hay “prion”. Dữ liệu hỗ trợ cho giả thuyết thay thế này, như vi khuẩn hay virus nguồn gốc hay sự tham gia của các đồng yếu tố như mất cân bằng khoáng chất, vẫn còn là mơ hồ. Cơ sở phân tử cho biến đổi dòng vẫn còn chưa rõ, nhưng có liên quan đến giả thuyết về đặc điểm của dòng prion mà được mã hóa thành các hình thể khác nhau của protein của prion.

Đặc tính ban đầu của các dòng phân lập được từ BSE ở Anh Quốc, bằng cấy truyền cho chuột bạch (mice) cho thấy, tiến trình chủ yếu của dịch tễ là do một dòng đơn độc chủ yếu của tác nhân mà đã được phân biệt với các dòng đã được phân loại của tác nhân gây bệnh ngứa điên ở cừu (4). Tính giống nhau về sinh bệnh học ở hầu hết bò bị nhiễm cũng đã hỗ trợ khái niệm về một kiểu hình bản chất của bệnh đối với BSE (7, 30). Mô hình về bệnh tích thần kinh trong loài ký chủ là quan trọng trong phân loại loại hình và nhận định trường hợp đối với BSE, được áp dụng để xác nhận bệnh.

Các báo cáo từ 2003 về các đặc tính biến thiên của sinh bệnh tích và/hoặc các đặc tính phân tử trong một số quốc gia đã làm nảy sinh vấn đề về khả năng biến thiên dòng của bệnh do prion trên bò (3, 8, 21, 44). Có hay không các phát hiện này thể hiện một dòng biến thể thực sự của tác nhân gây BSE, hoặc các dạng khác nhau của bệnh nhiễm prion trên bò, vẫn còn là điều cần chứng minh. Do việc phát hiện ra hầu hết các trường hợp BSE từ giám sát chủ động, nên thiếu mối liên quan về lịch sử lâm sàng, và hầu hết chỉ tập trung vào dữ liệu thấm thấu miễn dịch cầu Tây (western immunoblotting data) (3, 44). Mô tả có hiểu biết nhất, có từ hóa miễn dịch mô bào (immunohistochemical – IHC), mô bệnh học (histopathological) và phân tích thấm thấu miễn dịch cầu Tây (western immunoblotting) có liên quan đến hai con bò già ở Italy (8). Khả năng cấy truyền của một số dòng sang chuột bạch, với các đặc trưng khác với các cấy truyền BSE trước đó, đã được xác nhận (2, 5). Các nghiên cứu cấy truyền đối với các dòng khác trên bò đang được tiến hành. Một đặc điểm thú vị thường gặp là hầu hết các dòng này đều có nguồn gốc từ bò già.





Đăng ký nhận bài viết qua Email!

In bài nàyIn bài này Tải xuống dạng PDFTải định dạng PDF


Bản tin mới nhất

Quy trình chăn nuôi

 
Trang chủ | Hướng dẫn | Thanh toán | Vận chuyển | Bảo hành | Đổi - Trả | Về đầu trang ↑
Bản quyền nội dung trên trang thuộc vềVetshop.VN® 2013
Để tôn trọng quyền tác giả, xin ghi rõ tên tác giả và nguồn bài viết khi phát hành lại thông tin trên trang này.
Bản tin chăn nuôi | Chăm sóc chó mèo | Chẩn đoán bệnh | Bệnh trên heo | Bệnh chó mèo | Bệnh gà | Bệnh trâu bò
Sản phẩm chăn nuôi | Thuốc thú y | Dụng cụ chăn nuôi | Thiết bị thú y | Tài liệu chăn nuôi thú y | Sản phẩm cho chó mèo
Quy trình chăn nuôi | Kỹ thuật thú y | Nuôi thú cưng | Thiết bị chuồng trại | Dụng cụ thú y | Kỹ thuật chăn nuôi | Sách chăn nuôi thú y