Tiến Bộ Trong Chuồng Trại Và Quản Lý Chất Thải Trong Chăn Nuôi | Vetshop.VN


Sửa

Tiến Bộ Trong Chuồng Trại Và Quản Lý Chất Thải Trong Chăn Nuôi

Đăng bởi: | ngày: 29.6.13 Bình luận cho bài viết! | In bài này
Vũ Chí Cương

Phần 1. Biến đổi khí hậu, môi trường và vai trò của chăn nuôi

Ảnh minh họa.
Biến đổi khí hậu và môi trường đang là một vấn đề nóng hổi được quan tâm không những chỉ bởi các nhà khoa học mà cả các chính trị gia và toàn bộ cộng đồng. Hội nghị thế giới tại Copenhagen (Đan mạch) do Liên hợp quốc tổ chức gần đây là một ví dụ về sự nóng hổi này. Biến đổi khí hậu và môi trường ảnh hưởng đến tất cả các mặt của đời sống loài người, trong đó có chăn nuôi. Nhằm cung cấp cho các đọc giả của Tạp chí khoa h ọc và công nghệ Viện chăn nuôi một cái nhìn tổng quát nhất về biến đổi khí hậu và môi trường, đóng góp của chăn nuôi vào các biến đổi này cũng như chiến lược chăn nuôi nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu và môi trường, bài tổng quan này được viết trên cơ sở tham khảo các tài liệu và các tri thức hiện hữu. Do bài viết dài, thông tin khá nhiều, nên sẽ được chia làm hai phần, đăng ở hai số khác nhau của tạp chí.

Biến đổi khí hậu là sự mất cân bằng lâu dài của các yếu tố thời tiết như: nhiệt độ, gió, mưa của một vùng nào đó trên hành tinh (Najeh Dali, 2008). Thay đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất loài người phải đối mặt ở thế kỷ này. Khí hậu trái đất đã nóng lên bình quân 0,7o c trong 100 năm qua và thập kỷ 1990 -2000 là thời kỳ nóng nhất, mưa đã thay đổi theo cả không gian và thời gian, mức nước biển dâng cao 25 cm, b ăng vùng cực đang tan (Watson, 2008). Nhiệt độ của trái đất hiện đã tăng lên vì sự tăng nồng độ khí nhà kính (Green house gases- GHG) do các ho ạt động của con người chủ yếu là sự bốc thoát CO2 do đốt các nhiên liệu hóa thạch, phá rừng ở nhiệt đới và CO2, CH4, N2O... từ nông nghiệp và chăn nuôi (Najeh Dali, 2008). Ng ười ta dự tính: do tăng nồng độ khí nhà kính nhiệt độ bề mặt trái đất sẽ tăng từ 1,1 đến 6,4 oc từ 1990 đến 2100, đất liền nóng lên nhiều hơn các đại dương và vùng vĩ độ cao nóng lên nhi ều hơn vùng nhiệt đới (Watson, 2008). Mưa toàn cầu sẽ tăng lên, nhưng ở một số vùng mưa tăng, một số vùng lại giảm, mực nước biển sẽ tăng cao 0,5 m t ừ 1990 đến 2100 chưa tính đến băng tan ở vùng cực và sẽ có nhiều ngày nóng, nhiều lụt lội và khô hạn (Watson, 2008).

1.1. Ảnh hưởng chung của thay đổi khí hậu

Thay đổi khí hậu sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cân bằng sinh thái, sức khỏe con người và phát triển bền vững đặc biệt ở các nước phát triển (Najeh Dali, 2008), nơi mà các điều kiện cần thiết để thích ứng với biến đổi khí hậu còn chưa sẵn sàng. Nóng lên ở một số vùng ảnh hưởng đến hệ sinh thái nhiều vùng trên quả đất (Seguin, 2008). Đã thấy có các thay đổi về phân bố của các loài, thay đổi về kích cỡ của quần thể, thay đổi về thời gian sinh sản, thời gian di cư, tăng mạnh các vụ bùng nổ dịch bệnh động vật và côn trùng có hại (Seguin, 2008). Trong khi châu Âu mùa trồng trọt kéo dài ra trong 30 năm qua, một số vùng của châu Phi thay đổi khí hậu và môi trường đã làm giảm trồng ngũ cốc từ những năm 1970 (Watson, 2008). 

Thay đổi các quần thể cá liên quan đến sự dao động ở qui mô lớn của khí hậu: kiểu hiện tương El-Nino đã làm giảm sản luợng cá đánh bắt được ở ngoài khơi bờ biển Nam mỹ và châu Phi. Các đại dương hiện có độ axit cao hơn nên khả năng hấp thu CO2 giảm đã ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi thức ăn (Food chain) (Watson, 2008). Thay đổi khí hậu thế kỷ 21 sẽ nhanh hơn 10 000 năm qua với ảnh hưởng xấu trực tiếp chủ yếu là các nước đang phát triển và người nghèo (Watson, 2008). Các đảo nhỏ, thấp, các vùng châu th ổ của các nước đang phát triển ở Nam á, Nam thái bình dương, Ấn độ dương sẽ biến mất, nằm dưới mực nước biển, 10 triệu người không có đất ở, sốt rét và sốt xuất huyết tăng lên và nghiêm trọng là ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trồng trọt giảm mạnh, ở châu Phi, mỹ la tinh và các nước đang phát triển hiện đã có sẵn nghèo đói và suy dinh duỡng ở trẻ con (Watson, 2008). Thủy điện sẽ không còn là nguồn năng lương đáng tin cậy nữa vì mưa không ổn định ở các vùng vốn đã không có an ninh về năng lượng (thiếu) (Watson, 2008). Nước ngọt ở nhiều vùng của thế giới hiện đang thiếu sẽ trở nên khan hiếm (Watson, 2008). Tăng mất mát của đa dạng sinh học, tăng nguy cơ tuyệt chủng của nhiều loài, đặc biệt những loài đang có nguy cơ cao do số lượng quần thể nhỏ, nơi ở bị hạn chế hoặc bị chia nhỏ (Watson, 2008).

1.2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và môi trường đến cây trồng

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và môi trường trước hết là đến các chức năng sinh lý và sinh thái của cây trồng. Khi hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng lên sẽ kích thích quá trình quang hợp của cây cỏ, cây rừng cũng như các cây lương thực thực phẩm (Seguin, 2008). Thí nghiệm khí hậu học trong điều kiện có kiểm soát đã cho thấy sự kích thích này. Hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng đã làm tăng quang hợp của các loài thực vật C3 ôn đới như lúa mì, đậu tương lên 10-20% nhưng chỉ làm tăng quang hợp của các loài thực vật C4 nhiệt đới như ngô và cao
lương lên 0-10% (Easterling et al., 2007).

Hình 1: Tăng quang hợp khi hàm lượng CO2 tăng
Hình 1: Tăng quang hợp khi hàm lượng CO2 tăng
Nhiệt độ cao hơn sẽ tốt cho sinh trưởng của thực vật vùng ôn đới trừ khi vượt quá ngưỡng nhưng lại không thích hợp cho sinh trưởng của cây cỏ vùng nhiệt đới (Seguin, 2008). IPCC (2007) tóm t ắt các kết quả của nhiều công trình cho thấy: ở các vùng ôn đới tăng nhiệt độ từ 1 – 2 oC cùng với việc tăng CO2 và lượng mưa sẽ có chút ảnh hưởng có lợi đến năng suất cây trồng. Trong khi đó ở các vùng có mùa khô ở nhiệt đới tăng nhiệt độ 1-2 độ đã có ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất của những cây trồng chủ yếu. Easterling et al (2007) cho th ấy một khuynh hướng tương tự cũng xẩy ra với sinh khối của đồng cỏ và chất lượng đồng cỏ. Thay đổi
khí hậu đặc biệt là khô hạn sẽ dẫn đến những thiệt hại khó lường.

1.3. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và môi trường đến chăn nuôi

1.3.1. Ảnh hưởng trực tiếp.

Các thảm họa thiên nhiên như hạn hán lụt lội đang tăng lên cũng là mối đe dọa cho chăn nuôi (Hoffmann, 2008). Các thảm họa này có thể làm chúng ta mất đi một số lượng lớn các giống gia súc quý hiếm, giảm đa dạng sinh học (Hoffmann, 2008). Trái đất nóng lên cũng làm tăng stress nhiệt ở gia súc, gia cầm (Hoffmann, 2008).

1.3.2. Ảnh hưởng gián tiếp

Hệ sinh thái thay đổi. Do biến đổi khí hậu và môi trường toàn cầu, các hệ sinh thái cũng sẽ thay
đổi (Hoffmann, 2008). Sự thay đổi này bao gồm thay đổi về đất đai, nguồn nước, thức ăn, đồng cỏ, hệ động thực vật, vi sinh vật (Hoffmann, 2008). Chăn nuôi sẽ bị ảnh hưởng của thay đổi khí hậu và môi trường bởi nhiều cách trong đó có việc tăng tỷ lệ bệnh tật ở gia súc (Watson, 2008; Seguin, 2008), tăng giá các loại thức ăn chăn nuôi (Ørskov, 2008) do mở rộng nhanh chóng diện tích trồng các cây làm nhiên liệu sinh học đã ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên đất trên hành tinh dùng cho sản xuất thức ăn và do đó ảnh hưởng đến cung cấp lương thực thực phẩm và giá cả của thức ăn chăn nuôi (Watson, 2008), nước dùng cho ch ăn nuôi ngày càng trở nên khan hiếm.

Quan hệ giữa vật chủ và các tác nhân gây bệnh thay đổi, nhiều bênh mới và nguy hiểm xuất hiện. Biến đổi khí hậu đã làm tăng áp lực cho chăn nuôi bởi vì số lượng bệnh, đặc biệt là các bệnh mới và nguy hiểm ngày càng tăng (Epstein, 2001). Trong hoàn cảnh mới chỉ có những kiểu gen kháng bệnh hoặc ít mẫn cảm với bệnh sẽ có nhiều cơ hội để tồn tại và phát triển. Ngoài ra thay đổi từ đòng cỏ C3 ôn đới sang đồng cỏ C4 nhiệt đới và tăng diện tích các cây bụi trên đồng cỏ đã được dự báo trước (Christensen et al., 2004). Sự thay đổi này sẽ làm giảm chất lượng cỏ.

1.4. Hệ lụy của thay đổi khí hậu đến sản xuất thực phẩm toàn cầu

Có vẻ như là trên bình diện toàn cầu, tăng năng suất trồng trọt chủ yếu xẩy ra ở các nước phát triển do các lợi ích mà thay đổi khí hậu mang lại. Hầu hết các nước đang phát triển năng suất nông nghiệp sẽ giảm (Parry et al 2004), kể cả chăn nuôi vì giá thức ăn tăng cao (Orskov, 2008). Năng suất nông nghiệp theo dự báo sẽ giảm khoảng 20-25% ở một số nước như Mexico, Nigeria hoặc Nam phi (Cline 2008 on the website of the Peterson Institute for International Economics). Kết quả là số người có khả năng đói trên hành tinh sẽ tăng từ 380 triệu lên 1300 triệu năm 2080, tùy thuộc vào kịch bản bốc thoát khí nhà kính trong tương lai. 850 triệu người sẽ đi ngủ với một cái bụng lép, và 2 tỷ người sẽ phải đối mặt với các bệnh do côn trùng truyền lây, thiếu nước, càng trở nên ngèo đói hơn (Watson, 2008).

1.5. Thách thức

Thách thức là bằng cách nào đó phải giảm ngay độ lớn và tỷ lệ thay đổi khí hậu do con người gây ra để giảm thải khí nhà kính thải vào khí quyển từ các hoạt động bao gồm cả các hoạt động chăn nuôi, trồng trọt nông lâm nghiệp, giảm rủi ro cho hệ sinh thái và súc khoẻ con người (Watson, 2008). Hiểu biết hiện nay cho thấy ảnh hưởng xấu của biến đổi khí hậu sẽ xuất hiện khi nhiệt độ bề mặt hành tinh tăng hơn 2oC và tốc độ tăng vượt quá 0,2oC/10 năm (Watson, 2008). Ổn định hàm lượng CO2 qui đổi ở mức 450 ppm sẽ ngăn được nhiệt độ bề mặt hành tinh tăng hơn 2oC.

1.6. Đóng góp của chăn nuôi trong biến đổi khí hậu và môi trường

Chăn nuôi chiếm 70% đất nông nghiệp và 30% diện tích không có băng giá của hành tinh, tạo ra 40% GDP của nông nghiệp toàn cầu, đóng góp đáng kể đến biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường (Watson, 2008). Nhu cầu toàn hành tinh về các sản phẩm chăn nuôi sẽ tăng gấp đôi trong nửa đầu thế kỷ 21 do tăng dân số (Watson, 2008). Trong thời gian này khí hậu trái đất cũng sẽ có thay đổi lớn.

An ninh lương thực vẫn là ưu tiên số 1 ở các nước đang phát triển và chăn nuôi đóng vai trò chủ đạo ở phần lớn các nứơc này. Chúng ta vì thế cần khoa học chăn nuôi chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm chăn nuôi an toàn về môi trường và xã hội (Watson, 2008). Cũng cần xem lại xem các phát hiện mới nhất về thay đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó đến chăn nuôi cũng như vai trò của chăn nuôi trong biến đổi khí hậu và làm thế nào để giảm đóng góp của chăn nuôi đến thay đổi khí hậu, làm thế nào các hệ thống chăn nuôi có th ể đáp ứng đựơc với thay đổi khí hậu và cái gì nên là các ưu tiên trong nghiên cứu chăn nuôi trong bối cảnh mới (Watson, 2008). Vai trò của chăn nuôi trong chu kỳ N và C, đến thay đổi khí hậu liên hệ chặt chẽ đến ảnh hưởng của chăn nuôi đến sử dụng đất như đất chăn thả (đồng cỏ) đất trồng cây thức ăn gia súc (thức ăn xanh và tinh) (Steinfeld and Hoffmann, 2008).

Khi xem xem xét cả chu kỳ sản xuất hàng hóa khí thải nhà kính từ chăn nuôi đóng góp làm trái đất nóng lên là 18%, hay gần một phần năm khí thải nhà kính (FAO, 2006a; Steinfeld et al. 2006) khí thải nhà kính từ chăn nuôi lớn hơn khí thải từ xe hơi và các phương tiện giao thông khác (FAO, 2006a), chăn nuôi đóng góp 9% (CO2), 37 % CH4 và 65 % N2O tổng khí thải nhà kính (Steinfeld and Hoffmann, 2008). Lượng N2O sẽ còn tăng lên nữa trong các thập kỷ tới vì đồng cỏ đang đươc mở rộng tối đa ở hầu khắp các vùng của thế giới vì chăn nuôi đang mở rộng, cần nhiều đất sản xuất thức ăn hơn (Steinfeld and Hoffmann, 2008). Ở hầu hết các loại đất nông nghiệp kể cả đồng cỏ thu cắt, bón phân nitơ, hoặc phân và chất thải gia súc có chứa N sẽ kích thích bốc thoát N2O (Soussana et al., 2007).

Có ba loại khí thải nhà kính (Green house gases-GHGs) là CO 2, methan (CH4), và nitrous oxide (N2O) (Steinfeld et al. 2006). Trong khi người ta chú ý nhiều đến CO2, methan (CH4) và nitrous oxide (N2O) có tiềm năng gây hiệu ứng nhà kính lớn hơn rất nhiều so với CO2 (Koneswaran và Nierenberg, 2008). Nếu coi một g CO2 là một đơn vị (hay đương lượng CO2) gây hiệu ứng nhà kính (làm nóng khí quyển và trái đất) thì tiềm năng gây hiệu ứng nhà kính của một g methan (CH4) và 1g nitrous oxide (N2O) là 23 và 296 đương lượng CO2 (Koneswaran và Nierenberg, 2008). Trong báo cáo vào tháng 11, 2006 c ủa FAO (November 2006 report, Livestock’s Long Shadow: Environmental Issues and Options, by the Food and Agriculture Organization (FAO) of the United Nations), chăn nuôi có vai trò đáng kể làm trái đất nóng lên và là một trong những đe dọa lớn cho môi trường toàn cầu (FAO 2006a). Vì số lượng gia súc tăng, khí thải nhà kính cũng sẽ tăng theo. Tăng số lượng gia súc, tăng số trang trại nuôi gia súc tập trung đã làm tăng khí thải nhà kính từ chăn nuôi và từ chất thải (phân) của gia súc (Paustian et al. 2006).

Công nghệ chăn nuôi phát triển, nhiều trang trại chăn nuôi công nghiệp tập trung xuất hiện, phân thải ra từ các trang trại này nhiều hơn lượng phân cần thiết cho trồng trọt (FAO 2005b), dẫn đến tích tụ phốt pho, nitơ và các chất gây ô nhiễm khác trong đất, nước ngầm, sông hồ, biển (Thorne 2007). Nhốt một số lượng lớn gia súc ga cầm trong chuồng làm tăng các vấn đề về môi trường và là một trong 2 hoặc 3 yếu tố quan trọng nhất của chăn nuôi đóng góp vào những vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất (Steinfeld et al. 2006). CO2 từ chăn nuôi chủ yếu từ sử dụng phân bón cho tr ồng cỏ và cây thức ăn, đốt nhiên liệu chạy các máy móc dùng cho chăn nuôi ... (Steinfeld et al. 2006). Ví dụ để sản xuất 1 kg thịt bò cần tới 4,37 MJ hay 1,21 kilowat-giờ, còn để sản xuất 12 quả trứng cần hơn 6 MJ hay 1,66 kilowat-giờ (Steinfeld et al. 2006). Methan từ chăn nuôi chủ yếu đến từ quá trình lên men thức ăn ở dạ cỏ - enteric fermentations và phân gia súc và ch ụi ảnh hưởng của một số yếu tố như: tuổi gia súc, khối lượng, chất lượng thức ăn, hiệu quả tiêu hóa thức ăn... (Paustian et al. 2006; Steinfeld et al. 2006). Hàng n ăm chăn nuôi, chủ yếu là chăn nuôi gia súc nhai lại tạo ra khoảng 86 triệu tấn methan/năm (Steinfeld et al. 2006). Bò vỗ béo trong feedlot, ăn các khẩu phần tiêu chuẩn tạo ra phân với tiềm năng tạo khí methan rất cao, trong khi đó bò chăn thả ăn các khẩu phần tự nhiên (cỏ và phụ phẩm), năng lượng thấp tạo ra phân có ti ềm năng sinh methane bằng một nửa khẩu phần tiêu chuẩn (U.S. EPA, 1998). Theo Pew Center on Global Climate Change, phân gia súc sinh ra 25 % khí methan và 6 % nitrous oxide trong nông nghi ệp tại Hoa kỳ (Paustian et al. 2006). Trên bình diện toàn cầu, khí nhà kính từ phân lợn chiếm gần một nửa khí nhà kính từ chăn nuôi (Steinfeld et al. 2006). Phân gia súc tạo ra gần 18 triệu tấn methan/năm (Steinfeld et al.2006).

Từ năm 1990 đến 2005 ở Hoa kỳ, khí methan từ chăn nuôi bò sữa và lợn đã tăng tương ứng 50 và 37 % (U.S. EP A, 2007a). Chăn nuôi tạo ra 65 % khí nitrous oxide (Steinfeld et al. 2006).
Chăn nuôi ảnh hưởng đến nhiều mặt của môi trương: ô nhiễm đất và không khí, nước ngầm, chất lượng đất, giảm đa dang sinh học, đóng góp vào thay đổi khí hậu (Jean-Yves et al., 2008). Tuy nhiên đóng góp làm tăng khí thải nhà kính rất khác nhau từ ngành chăn nuôi này sang ngành chăn nuôi khác. Đóng góp của quá trình lên men ở dạ cỏ, sử lý phân và sản xuất cỏ và thức ăn gia súc vào tổng lượng khí thải nhà kính từ chăn nuôi lợn và bò sữa rất khác nhau. Bằng phương pháp đánh giá toàn bộ chu trình sống của gia súc (life cycle assessment - LCA) các tác giả Basset-Mens and van der Werf (2005); Roger et al. 2007 cho th ấy: tính trên 1 ha một năm khí thải nhà kính từ chăn nuôi bò sữa cao hơn khí thải nhà kính từ chăn lợn một chút (Bảng1).


Chăn nuôi lợn
Chăn nuôi  sữa
Kg eq CO2
% của tổng
Kg eq CO2
% của tổng
Cho một đơn vị sản phẩm (kg thịt lợn, lít sữa)
2.47
100
0.88
100
Nguồn gốc từ:

Lên men đường tiêu hóa
0.08
3.2
0.35
40.0
Thu thập, sử lý phân
0.68
27.2
0.16
18.0
Sản xuất cỏ và thức ăn
1.67
67.6
0.32
36.0
Các nguồn khác
0.04
1.6
0.05
6.0
Loại khí nhà kính

CH4
0.49
19.9
0.46
52.8
N2o
1.03
41.8
0.26
29.2
CO2
0.95
38.3
0.16
17.9
Trên một ha đất/năm
4240

5080

*: Basset-Mens and van der Werf (2005); Roger et al. 2007)
Bảng 1: Ước tính khí thải gây hiệu ứng nhà kính (Đương lượng CO2 – eqCO2)
trong chăn nuôi lợn và chăn nuôi bò sữa.*

Tuy nhiên nguồn khí gây hiệu ứng nhà kính khác nhau gi ữa chăn nuôi lợn và bò sữa. Ở bò sữa hầu h ết khí nhà kính là từ lên men trong d ạ cỏ (40%), tiếp đến là từ sản xuất thức ăn và cỏ (36%) (Jean-Yves et al., 2008). Đối với lợn sản xuất thức ăn tạo ra nhiều khí nhà kính nhất (68%) tiếp đến là thu thập, xử lý, bảo quản phân (28%) (Jean-Yves et al., 2008). Nitrous oxide và CO2 là hai khí nhà kính chủ yếu trong chăn nuôi lợn, trong khi CH4 là khí nhà kính chủ yếu trong chăn nuôi bò sữa (Jean-Yves Dourmad et al., 2008). Có biến động lớn về lượng khí thải nhà kính: cho 1 t ấn sữa từ: 600 đến 1500 kg đương lượng (eq) CO2 (Cederberg and Mattson (2000), Haas et al. (2001), Cederberg and Flysö (2004), Thomassen et al. (2008), Roger et al., 2007 and Basset-Mens et al. (2007), cho 1 kg th ịt lợn: từ 2 đến kg eq CO2 (Basset-Mens and van de Werf (2005), Cederberg, (2002), Dalgaard and Halberg (2005), Blonk et al. (1997, cited by Basset-Mens and van de Werf, 2005 ), Carlsson-Kanyama (1998). Trong điều kiện chăn thả số lượng methan tạo ra phụ thuộc vào số lượng gia súc trên một đơn vị diện tích. Lượng CH4 thải ra/đơn vị khối lượng thay đổi tùy thuộc vào loại gia súc chăn thả và vào khoảng: 0,33 và 0,45 gCH4 /kg khối lượng với bò cái tơ và bò đực và đến 0,68-0,97g CH4 kg/kg khối lượng ở bò sữa (Pinares- Patino et al., 2007).

Tóm lại: Biến đổi khí hậu và môi trường không còn là lý thuyết trừu tượng của các nhà khoa học mà đang hiện hữu và gây ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với chăn nuôi rất lớn và trên nhiều khía cạnh. Chăn nuôi, xét về khía cạnh môi trường, cũng là một tác nhân lớn đóng góp vào biến đổi khí hậu và môi trường. Như vậy với chăn nuôi gia súc nhai lại cần phải quan tâm cả CH4 và N2O, CO2, trong khi chăn nuôi gia súc dạ dầy đơn phải quan tâm chủ yếu đến CO2, N2O và NH3 (Wall et al., 2008). (còn tiếp...)
References cho phần 1
Basset-Mens C, Ledgard S, Boyes M 2007. Eco-efficiency of intensification scenarios for milk production in New Zealand.

Ecological Economics.doi:10.1016/j.ecolecon.2007.11.017 

Basset-Mens C, van der Werf H 2005. Scenario-based environmental assessment of farming systems: the case of pig production. Agriculture, Ecosystems & Environment 105, 127-144.

Carlsson-Kanyama A 1998. Energy consumption and emissions of greenhouse gases in the life-cycle of potatoes, pork meat, rice and yellow peas. Technical report 26 ISSN1104-8298. Department ofSystems Ecology, Stockholm, Sweden. 

Cederberg C 2002. Life cycle assessment of animal production. PhD Thesis. Department of Applied Environmental Science, Göteborg University, Sweden.

Cederberg C, Flysjö A 2004. Life cycle inventory of 23 dairy farms in south-Western Sweden. In: SIK report n° 728, SIK, Göteborg, Sweden.

Cederberg C, Mattson B 2000. Life cycle assessment of milk production – a comparison of conventional and organic farming. Journal of Cleaner Production 8, 49-62.

Christensen, L., M.B. Coughenour, J.E. Ellis, Z.Z. Chen, 2004. Climatic Change 63: 351–368, 2004.  Cline 2008 on the website of the Peterson Institute for International Economics.

Dalgard R, Halberg N, 2005. Life cycle assessment of Danish pork. In: Green Pork Production, ed. INRA, Paris, 25-27 May 2005.

Easterling, W.E., P.K. Aggarwal, P. Batima, K.M. Brander, L. Erda, S.M. Howden, A. Kirilenko, J. Morton, J.-F. Soussana, J. Schmidhuber and F.N. Tubiello, 2007: Food, fibre and forest products. Climate Change 2007: Impacts, Adaptation and Vulnerability. Contribution of Working Group II to the Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change, M.L. Parry, O.F. Canziani, J.P. Palutikof, P.J. van der Linden and C.E. Hanson, Eds., Cambridge University Press, Cambridge, UK, 273-313.

Epstein, P.R. 2001. Microbes and Infection, 3, 747−754. 

FAO. 2006a. Livestock’s long shadow – environmental issues and options, edited by H. Steinfeld, P. Gerber, T. Wassenaar, V . Castel, M. Rosales & C. de Haan. Rome.

FAO. 2005b. Responding to the “livestock revolution”-the case for livestock public policies. Available: http://www.fao.org/ag/againfo/resources/documents/polbriefs/

FAO. 2006b. Breed diversity in dryland ecosystems. CGRFA/WG-AnGR-4/06/Inf. 9.

FAO. 2006. Livestock a major threat to the environment: remedies urgently needed. Available: http://www.fao.org/ag/againfo/resources/documents/polbriefs/

Haas G, Wetterich F, Köpke U 2001. Comparing intensive and organic grassland farming in southern germany by process life cycle assessment. Agriculture Ecosystems & Environment 83, 43-53.

Hoffmann, I. (2008). Livestock genetic diversity and climate change adaptation. Pp:76-80. InProceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, TunisiaCambridge Univesity press, May , 2008.

IPCC. 2007. Climate change 2007. Impacts, adaptation and vulnerability, Summary for policymakers and technical summary, WG II contribution to the AR4, 93 pp. 

Jean-Y ves Dourmad, Cyrille Rigolot, Hayo van der Werf. 2008.Emission of greenhouse gas, developing management and animal farming systems to assist mitigation. Pp: 36-39. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, TunisiaCambridge Univesity press, May , 2008.

Koneswaran, G. and D. Nierenberg, 2008. Global farm animal production and global warming:
Impacting and mitigating climate change. Pp:164-169. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, TunisiaCambridge Univesity press, May , 2008.

Najeh Dali. 2008. Principal guidelines for a National Climate Change Strategy: Adaptation, mitigation and international solidarity. Pp:1-5. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, Tunisia Cambridge Univesity press, May , 2008.

Ørskov, E. R. 2008. Livestock nutrition in future: taking into account climate change, restricted fossil fuel and arable land used also for biofuel leading to high grain prices. Pp:144. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P Rowlinson, M. Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, TunisiaCambridge Univesity press, May , 2008.

Parry. M. L., C. Rosenzweig, A. Inglesias, M. Livermore and G. Fischer. 2004. Effects of climate change on global food production under SRES emission s and socio-economic scenarios. Global Environmental Change, Part A, 14(1), 53-67 pp.

Paustian K, Antle M, Sheehan J, Eldor P. 2006. Agriculture’s Role in Greenhouse Gas Mitigation. Washington, DC: Pew Center on Global Climate Change.

Pinares-Patiño C, Ulyatt MJ, Holmes CW Barry TN and Lassey KR 2001. In Energy and Protein Metabolism and Nutrition, EAAP publication 103, pp 117-120, Wageningen Academic Publishers, the Netherlands.

Pinares-Patino, C.S., Dhour, P., Jouany, J.-P., and Martin, C. 2007. Agriculture, Ecosystems and Environment 121:30. 

Prayaga, K.C., W. Barendse & H.M. Burrow, 2006. Genetics of tropical adaptation. 8th World Congress
on Genetics Applied to Livestock Production, August 13-18, 2006, Belo Horizonte, MG, Brasil.
Roger F, van der Werf H, Kanyarushoki C 2007. Systèmes bovins lait bretons : consommation
d'énergie et impacts environnementaux sur l'air, l'eau et le sol. Rencontres Recherches Ruminants 14, 33-36.

Seguin, B. 2008. The consequences of global warming for agriculture and food production. Pp: 9-11. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P. Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, Tunisia Cambridge Univesity press, May , 2008.

Soussana, J-F. 2008. The role of the carbon cycle for the greenhouse gas balance of grasslands and of livestock production systems Pp:12-15. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, Tunisia Cambridge Univesity press, May , 2008.

Steinfeld, H and Hoffmann, I. 2008. Livestock, greenhouse gases and global climate change. Pp: 8-9. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P. Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, Tunisia Cambridge Univesity press, May , 2008.

Steinfeld H, Gerber P, Wassenaar T, Castel V , Rosales M, de Haan C. 2006. Livestock’s Long Shadow: Environmental Issues and Options. Rome, Italy: Food and Agriculture Organization of the United Nations. 

Thomassen MA, van Calker KJ, Smits MCJ, Iepema GL, de Boer IJM 2008. Life cycle assessment of conventional and organic milk production in the Netherlands. Agricultural Systems 96, 95-107.

Thorne PS. 2007. Environmental health impacts of concentrated animal feeding operations: anticipating hazards –searching for solutions. Environ Health Perspect 115:296-297. 

U.S. EPA. 1998. Inventory of U.S. Greenhouse Gas Emissions and Sinks: 1990-1996. Washington, DC:U.S. Environmental Protection Agency.

U.S. EPA. 2007a. Inventory of U.S. Greenhouse Gas Emissions and Sinks: 1990-2005. Washington, DC:U.S. Environmental Protection Agency.

Wall, E., Bell, M. J. and Simm.G. 2008. Developing breedings schemes to assist mitigation. Pp:44-47. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, Tunisia Cambridge Univesity press, May , 2008.

Watson, R. 2008. Climate Change: An environmental, development and security issue. Pp: 6-7. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: PRowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, Tunisia Cambridge Univesity press, May , 2008.



Đăng ký nhận bài viết qua Email!

In bài nàyIn bài này Tải xuống dạng PDFTải định dạng PDF


Bản tin mới nhất

Quy trình chăn nuôi

 
Trang chủ | Hướng dẫn | Thanh toán | Vận chuyển | Bảo hành | Đổi - Trả | Về đầu trang ↑
Bản quyền nội dung trên trang thuộc vềVetshop.VN® 2013
Để tôn trọng quyền tác giả, xin ghi rõ tên tác giả và nguồn bài viết khi phát hành lại thông tin trên trang này.
Bản tin chăn nuôi | Chăm sóc chó mèo | Chẩn đoán bệnh | Bệnh trên heo | Bệnh chó mèo | Bệnh gà | Bệnh trâu bò
Sản phẩm chăn nuôi | Thuốc thú y | Dụng cụ chăn nuôi | Thiết bị thú y | Tài liệu chăn nuôi thú y | Sản phẩm cho chó mèo
Quy trình chăn nuôi | Kỹ thuật thú y | Nuôi thú cưng | Thiết bị chuồng trại | Dụng cụ thú y | Kỹ thuật chăn nuôi | Sách chăn nuôi thú y