Hội Chứng MMA (Mastitis - Metritis - Agalactia) Trên Heo Nái | Vetshop.VN


Sửa

Hội Chứng MMA (Mastitis - Metritis - Agalactia) Trên Heo Nái

Đăng bởi: | ngày: 28.1.15 Bình luận cho bài viết! | In bài này

I. Đặt vấn đề

Vú heo nái bị viêm. Ảnh minh họa.
Vú heo nái bị viêm. Ảnh minh họa.
Hội chứng MMA là một tập hợp các triệu chứng của các bệnh: viêm vú (Mastitis), viêm tử cung (Metritis) và mất sữa (Agalactia). Bệnh thường xảy ra trên heo nái bị bệnh đường sinh dục, trong các thời kỳ mang thai và chiếm tỷ lệ cao nhất ở nái giai đoạn sau khi sinh. Hội chứng MMA có tác hại rất lớn trong chăn nuôi đặc biệt là trên nái như làm giảm khả năng sinh sản ở cácchu kỳ sinh sản tiếp theo, gây ảnh hưởng trên đàn heo con theo mẹ (heo con không đủ sữa bú, giảm tăng trưởng và tăng tỷ lệ heo con chết ở giai đoạn theo mẹ), tăng chi phí giá thành chăn nuôi, giảm hiệu quả kinh tế của hộ nuôi.

II. Nội dung

2.1 Định nghĩa

Hội chứng MMA là tình trạng xáo trộn sinh lý của nái sau khi sinh thường được ghi nhận trên chẩn đoán lâm sàng gồm có: vú sưng cứng đỏ sẫm, sữa giảm hoặc ngừng, tử cung tiết dịch viêm chảy ra bên ngoài. Những hiện tượng bệnh lý này gọi là hội chứng M.M.A.

Hội chứng M.M.A thường xảy ra khoảng 12 – 72 giờ sau khi sinh. Viêm tử cung, viêm vú, tắc sữa thường đi kèm với nhau hoặc xảy ra riêng lẻ, khi chúng xảy ra với mức độ nặng thì có rất nhiều tác hại đối với heo mẹ và heo con.

Viêm tử cung

Trong hội chứng M.M.A, viêm tử cung là chứng thường gặp nhất và xảy ra ở nhiều cấp độ, thông qua tính chất của dịch viêm tiết ra từ tử cung, thường gặp các dạng viêm nhờn, viêm có mủ và viêm lẩn mủ
  • Viêm dạng nhờn: thường xuất hiện rất sớm sau khi sinh, lớp niêm mạc tử cung bị tổn thương nhẹ, kích thích tiết dịch nhờn tử cung, dịch viêm thường loãng, lợn cợn, mùi tanh, sau vài ngày dịch tiết giảm dần. Nhiều khi không cần điều trị cũng tự khỏi.
  • Dạng viêm mủ: Thể viêm này tương đối nặng, niêm mạc tử cung bị tổn thương nặng, có sự xâm nhập của vi trùng sinh mủ và hầu hết các vi trùng cơ hội. Nó đôi khi chính là hậu quả của viêm nhờn. Viêm dạng mủ thường biểu hiện các triệu chứng sốt, chán ăn, tiết dịch viêm nhiều mủ có thể lẩn một ít máu.
  • Viêm dạng mủ lẩn máu: Đây là dạng viêm rất nặng, thường đi kèm với nguyên nhân đẻ khó, sót nhau, tử cung bị tổn thương nặng. Nái có biểu hiện sốt cao, dịch viêm rất hôi, thường dẫn đến veiem vú mất sữa. Nếu không can thiệp kiệp thời nái rất dễ bị tử vong sau một thời gian hoặc không còn khả năng nuôi con.

Viêm vú

Viêm vú thường ít gặp hơn viêm tử cung. Viêm vú xảy ra ở một vú hoặc vài vú hay cả bầu vú, vú bị viêm thường sưng cứng, màu đỏe bầm, khi ấn vào còn để lại vết, vú không tiết sữa hoặc tiết sữa có lẩn máu. Viêm vú thường đi kèm với sốt cao, vú bị đau, heo hay nằm sấp không cho con bú, viêm vú ít xảy ra nhưng khi xảy ra thì mức tác hại rất lớn vì tác động trước tiếp trên heo con sơ sinh. Nếu không chữa trị kịp thời, vú viêm sẽ bị teo lại, mất sữa, cũng có khả năng bị xơ hóa và mất khả năng cho sữa.

Mất sữa

Kém sữa hay mất sữa thường là hậu quả của hai chứng viêm tử cung và viêm vú. Những xáo trộn về sinh lý của hai chứng trên làm cho nái không tạo ra sữa ở mức bình thường, biểu hiện là sản lượng sữa giảm và mất hẳn. Bệnh thường xảy ra từ 1 – 3 ngày sau khi sinh hoặc có thể thấy ở bất cứ thời điểm nào trong giai đoạn nuôi con.

2.2 Nguyên nhân gây bệnh

2.2.1 Quản lý chăm sóc

Trong thời gian mang thai, nái ít vận động, nhốt chung quá đông, vệ sinh kém, sự thay đổi đột ngột của môi trường, thời tiết quá nóng hay quá lạnh trong thời gian sinh sản cũng là nguyên nhân gây hội chứng M.M.A (Hasting, 1995 và Vicker, 1960).

Theo Nguyễn Như Pho, Nguyễn Văn Bé (1980), khảo sát hội chứng M.M.A tại trại chăn nuôi Phước Long, các tác giả kết luận: vệ sinh kém, quy trình chăm sóc nái chưa hợp lý là nguyên nhân gây bệnh tại trại.

Việc quản lý cũng quan trọng như vấn đề dinh dưỡng trong việc phòng chống hội chứng M.M.A, vệ sinh quá kém, heo nái thiếu vận động, thời tiết quá nóng hay quá lạnh, nhốt quá đông…là nguyên nhân gây nên hội chứng M.M.A. Lấy phân hằng ngày, rửa khử trùng cho nái đẻ, tắm kỹ cho nái trước khi sinh…có thể ngăn chặn được sự tích tụ của vi trùng và giảm bớt hội chứng M.M.A Black (1968); Olmedo (1972); Wingert (1972); Broodsbank (1950); Bain (1966)

2.2.2 Rối loạn sinh lý nội tiết

Martin và cộng tác viên (1967), nhận thấy heo nái mắc hội chứng M.M.A có buồng trứng teo nhỏ, tuyến giáp teo lại, tuyến thượng thận lớn lên, các mô trong tuyến thượng thận và tuyến yên thoái hóa. Các tác giả kết luận: sự mất cân bằng về việc sản xuất kích thích tố có thể giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên trạng thái bệnh lý này.

2.2.3 Dinh dưỡng

Khẩu phần ăn
Foster (1969); Becker (1974); Leif Goranson (1984) cho biết để làm giảm hội chứng M.M.A nên cho nái ăn từ 2,2 – 2,4 kg trong giai đoạn mang thai và giảm thấp còn 1 kg trước khi sinh hai tuần, kết hợp cho ăn nhiều cỏ tươi.

Nguyễn Như Pho và cộng tác viên đã tiến hành và công bố lượng thức ăn cho nái chữa kỳ là 2 – 2,5 kg/ ngày (tùy thuộc vào mức độ ốm hay mập), 84 ngày đến trước khi sinh 1 tuần cho ăn từ 2,5 – 3 kg, trước khi sinh 1 tuần giảm xuống còn 1,2 kg/ ngày và tăng cường rau xanh, chất xơ đồng thời tăng thêm vitamin, chất khoáng thay thế lượng thức ăn giảm xuống bằng chất xơ. Quá trình này giúp cho nái tránh được hiện tượng giảm ăn sau khi sinh, tránh được táo bón có hiệu quả tốt trong việc phòng ngừa hội chứng M.M.A.

Thành phần thức ăn
Beat (1959) báo cáo: nguyên nhân gây hội chứng M.M.A là thiếu dinh dưỡng có thể do thiếu một hay nhiều sinh tố chủ yếu, thiếu chất khoáng bột đường hay nước. Một số ý kiến cho rằng nuôi heo bằng thực phẩm đậm đặc trong những ngày cuối của giai đoạn mang thai và trong khi nuôi con, có thể là nguyên nhân gây ra hội chứng này.

Chất đạm:
Beat (1956) và Vicker (1960) cho rằng khẩu phần heo nái thiếu protein có lẽ gây ra hội chứng M.M.A, trái lại Summer và Ringarp (1960) đã chứng tỏ khẩu phần dư đạm gây ra hội chứng M.M.A. Vern (1954) tin rằng khẩu phần thiếu hay thừa protein đều có thể gây viêm vú và tắt sữa.

Khoáng:
  • Cu (đồng): Theo Pestin và Coll (1958) đồng trong máu ảnh hưởng đến hoạt động của tuyến giáp bằng cách tăng sản xuất Thyroxin, kích thích sản xuất sữa và tăng toàn diện sự biến dưỡng của heo nái.
  • Mn (Man-gan): Voiner (1953) cho biết thức ăn thiếu Mn làm giảm khả năng sinh sản, ngoài ra còn có liên quan đến sự hình thành kích thích tố tuyến sữa.
  • Co (Cobalt): Theo Sansted (1953) hội chứng M.M.A có thể phát sinh do thiếu Co trong khẩu phần, tác giả bổ sung Co và nhận thấy tỷ lệ M.M.A giảm rõ rệt
  • Ca, P (Calci, Phosphor): Theo Wilz (1956) nếu thiếu một vài khoáng chất trong khẩu phần như Calci và phosphor hay các khoáng vi lượng là nguyên nhân gây nên hội chứng M.M.A. Năm 1955 Boley báo cáo hàm lượng Ca trong máu thấp khi sinh có thể gây tắt sữa.
  • Se (Selenium): Ullrey (1969) kết luận có sự tương quan mật thiết giữa sự thiếu Se và sự phát sinh M.M.A.
Sinh tố:
Ullrey (1960) khẩu phần chứa vitamin E (22UI/kg thức ăn) làm giảm tỷ lệ bệnh. Theo Schenk Kolb (1962) nếu thiếu vitamin A sẽ gây sừng hóa niêm mạc tử cung dẫn đến đậu thai kém, thai chết, sót nhau và làm giảm sức đề kháng của niêm mạc tử cung.

Chất xơ:
Gampton và Harris (1969) đưa ra vai trò của chất xơ là giúp tiêu hóa và ngăn ngừa táo bón. Ensor (1957), Brooksbank (1958) và Firth cho rằng nái táo bón là nguyên nhân gây hội chứng M.M.A

2.2.4 Sinh đẻ không bình thường

Đẻ khó: gặp nhiều ở các trường hợp khác nhau, như sự phát triển cơ thể của nái chưa được hoàn chỉnh mà cho phối sớm hoặc nái già sinh đẻ nhiều tử cung co bóp yếu…và thường khi gặp những trường hợp này cần phải áp dụng các thủ thuật sản khoa, từ đó màng niêm mạc, bộ phận sinh dục có thể bị tổn thương, điều này sẽ dễ dàng gây ra hội chứng M.M.A (Mikhailop, 1970).

Sót nhau: Ensor (1957), Brooksbank (1958), Victor (1960) và Tharp (1970) đều cho rằng sót nhau sẽ đưa đến chứng tắt sữa, nhiễm trùng và viêm tử cung.

2.2.5 Vi trùng

Hội chứng M.M.A theo đa số các tác giả không là bệnh truyền nhiễm, những vi sinh vật được phân lập là các vi sinh vật cơ hội, chúng xâm nhập vào bộ phận sinh dục trong điều kiện vệ sinh kém. Các tác giả đã phân lập được nhiều loại vi trùng khác nhau. Amstrong và cộng tác viên (1968) cho rằng vi trùng trong quan hệ với M.M.A gồm có: Citrobacter, Enterobacter, Proteur, Escherichia, Klebsiella, Pseudomonas, Staphylococcus, Streptococcus. Năm 1983, Ngô Thanh Long và Thái Thị Thúy Phượng phân lập vi trùng từ mẫu sữa bệnh, mủ tử cung đã tìm thấy: E.coli, Streptococcus, Staphylococcus aureus, Klebsiella, Pneumonia. Đây là những vi trùng cơ hội chúng có thể xâm nhập vào bầu vú qua vết trầy, cũng có thể qua ống dẫn sữa và dễ dàng xâm nhập vào tử cung lúc cổ tử cung mở.

2.3 Triệu chứng và bệnh tích

Hội chứng MMA thường xuất hiện với các triệu chứng như: bỏ ăn, táo bón, sốt cao. Ngoài ra, những dấu hiệu lâm sàng ở bầu vú, cơ quan sinh dục cũng được lưu ý: chảy dịch, mủ ở đường sinh dục, xung huyết bầu vú, giảm tiết sữa dẫn đến heo con gầy yếu, thể hiện trạng trầm uất hoặc hung hăng ở các mức độ khác nhau, ít đứng dậy và ít tiết sữa. Heo nái thường sau sinh thường có các triệu chứng sau đây:

Viêm tử cung

Vi khuẩn xâm nhập vào cơ quan sinh dục của nái trong quá trình đẻ, nhất là khi thời gian đẻ kéo dài hoặc khi dùng tay can thiệp trong quá trình đỡ đẻ. Sót nhau hay sót con cũng là nguyên nhân gây nhiễm trùng tử cung. Các biểu hiện của nái viêm tử cung: nái sốt trên 40 độ C và âm đạo có dịch có mùi hôi chảy ra, nếu viêm nặng có mủ trắng chảy ra. Nái biếng ăn, mệt mỏi.

Đặc điểm của bệnh là tử cung tiết nhiều dịch viêm, tùy theo mức độ có hai dạng viêm sau:
  • Dạng nhờn:là thể viêm nhẹ xuất hiện sau khi viêm khoảng 1-3 ngày, niêm mạc tử cung bị viêm nhẹ, tử cung tiết nhiều dịch nhờn hoặc đục, lợn cợn, mùi hơi tanh. Thường sau vài ngày,dịch tiết giảm dần đặc lại, heo nái không sốt hoặc sốt nhẹ, nhiệt độ cơ thể từ 39,5 - 40 độ C, heo nái vẫn cho con bú bình thường. Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sức khỏe của nái do đó ít ảnh hưởng đến heo con. Nếu nuôi dưỡng chăm sóc không tốt, tình trạng viêm sẽ chuyển từ dạng viêm nhờn sang dạng viêm tử cung có mủ. Dịch viêm của heo mẹ rơi trên nền chuồng, heo con liếm phải có thể tiêu chảy, từ đó ảnh hưởng đến tăng trọng và sức sống heo con.
  • Dạng viêm có mủ: là dạng viêm nặng, số lượng vi sinh vật nhiễm tăng cao. Heo sốt cao (40-41độ C), tăng hô hấp, khát nước, kém ăn và thường nằm nhiều. Nái rất mệt, ít cho con bú và rất hay đè con. Khoảng 8 – 10h sau khi có triệu chứng, từ trong tử cung mủ sẽ chảy ra, lúc đầu dịch viêm lỏng, trắng đục và dần dần chuyển sang nhày đục, có khi lẫn máu, mùi hôi tanh và kéo dài 3 – 4 ngày. Sau đó xuất hiện mủ dày đặc, dính vào âm hộ, nếu không can thiệp kịp thời sẽ chuyển sang thể viêm rất nặng. Heo kém ăn hoặc không ăn, sản lượng sữa giảm, thường kéo dài 2 – 4 ngày.
  • Dạng viêm mủ lẫn máu: tổn thương mao mạch gây chảy máu, sốt cao 40 - 41 độ C, không ăn kéo dài, sản lượng sữa giảm hoặc mất hết, heo có thể chết do nhiễm trùng máu, dịch viêm có mùi rất tanh.
Nếu điều trị không kịp thời sẽ chuyển sang dạng viêm mãn tính, ảnh hưởng đến quá trình thụ tinh, sinh đẻ sau này và có thể gây vô sinh.

Viêm tử cung có mủ trên heo nái. Ảnh minh họa,
Viêm tử cung có mủ trên heo nái. Ảnh minh họa.

Viêm vú: 

Do kế phát của viêm tử cung, sót nhau. Cơ thể bị nhiễm trùng huyết, do nhiễm trùng từ ngoài vào qua núm vú gây viêm. Do nái ăn nhiều chất đạm, khi đẻ nhiều sữa con bú không hết sữa tích lại căng cứng hoặc gây viêm hoặc chỉ cho con bú một bên, hàng vú bên kia sữa bị tích tụ gây viêm.

Vi khuẩn có thể xâm nhập trực tiếp qua ống dẫn sữa đầu vú hoặc theo đường máu từ các nhiễm trùng khác hoặc nhiễm trùng từ vết xây sát quanh bầu vú. Triệu chứng biểu hiện rõ tại bầu vú viêm với các đặc điểm: heo mẹ giảm ăn, sốt 40 - 41 độ C, bầu vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, vắt những vú sưng thấy sữa lợn cợn trắng, xanh, vàng.

Tùy số lượng vú bị viêm, heo nái sẽ có biểu hiện khác nhau. Nếu do nhiễm trùng trực tiếp thì chỉ có một vài bầu vú bị viêm. Heo mẹ sốt nhẹ, ăn ít, lượng sữa giảm, có biểu hiện lười cho con bú, heo con do thiếu sữa nên đòi bú liên tục, kêu rít, đồng thời heo con bị tiêu chảy toàn đàn do bú phải sữa bị viêm nên gây nhiễm trùng được ruột. Nếu trường hợp viêm tử cung có mủ dẫn tới nhiễm trùng máu làm toàn bộ bầu vú đều bị viêm, heo mẹ sốt cao, bỏ ăn, nằm sấp không cho con bú. Đây là triệu chứng điển hình của hội chứng MMA. Trường hợp này cần ghép bầy con và loại thải heo mẹ.

Mất sữa:

Heo nái mất sữa thường bị sốt, bỏ ăn, và bầu vú bị xung huyết, cứng sau trở nên nhão mềm. Để nhận biết hiện tượng mất sữa ở heo nái cần quan sát đàn heo con. Khi heo mẹ mất sữa Sản lượng sữa giảm hoặc mất hẳn do nái bị viêm vú hoặc vừa viêm vú vừa viêm tử cung. Chứng mất sữa thường đi kèm trong các bệnh gây sốt cao như viêm tử cung dạng có mủ, viêm phổi. Trong bệnh viêm tử cung dạng nhờn, viêm vài bầu vú, sự mệt nhọc do sinh đẻ chỉ làm kém sữa trong một thời gian ngắn (2-3 ngày).

Mất sữa cũng có thể xảy ra khi nái bị táo bón hoặc nhu động ruột bị ức chế trong thời gian đẻ, khi đó các độc tố đường ruột có thể đi vào trong máu gây ức chế tác dụng của hormon prolactin và oxytocin, làm giảm tiết sữa.

Các trường hợp mất sữa thường rất khó điều trị. Chỉ trong trường hợp kém sữa dùng biện pháp kích thích heo nái ăn, cung cấp đủ nước uống, chích Oxytocine. Vì vậy nếu heo nái bị viêm tử cung, sót nhau hoặc viêm vú phải điều trị ngay, vì đó là những nguyên nhân gây mất sữa sau khi sinh.

2.4 Phòng và điều trị bệnh

2.4.1 Trường hợp viêm tử cung:

  • Phải phát hiện càng sớm càng tốt (trong vòng 12-72h sau khi sinh), nhằm can thiệp để tránh heo nái bị nhiễm trùng huyết.
  • Thục rửa tử cung với dung dịch sát trùng iodine 1 lần/ngày trong 3 ngày
  • Bơm thuốc kháng sinh OTC VET LA 20% ( oxtetracycline – Greenvet) hoặc Navet-Penstrep (Dihydrostreptomycin sulfate, Penicillin G Procain – Navetco)
  • Tiêm kháng sinh Colamp (ampicillin trihydrate + colistin sulfate + dexamethasone acetate - Vemidim) 1ml/10kg/ngày trong 3 ngày; hoặc Genta 40 (gentamycin – Vemidim) hoặc sử dụng enrofloxacine
  • Hạ sốt với PARVET (acetaminophen – Vimidim) hoặc VIME ABC (analgine, vitamin C, vitamin B2 – Vimidim)
  • Tiêm oxytocin 10-20 UI/nái để tống các dịch nhầy ra.
Vệ sinh sát trùng chuồng đẻ và tắm rửa vệ sinh nái sạch sẽ trước khi đưa vào chuồng đẻ. Bảo đảm vệ sinh nguồn nước uống và thức ăn. Cho nái uống đủ nước trong giai đoạn nái mang thai khoảng 20lít/ nái/ ngày và trong giai đoạn tiết sữa nuôi con từ 35 - 50 lít nước/ nái/ ngày. Có thể tiêm kháng sinh colamp ngay sau khi sinh 1-2 giờ nhằm phòng ngừa MMA.

Hạn chế khẩu phần nái trước khi sinh, giảm chất đạm, tăng cường chất xơ. Bổ sung Magnesium sulfate (MgSO4) với liều 2kg/ tấn thức ăn để giúp nhuận tràng, chống táo bón. Chú ý cho nái uống đầy đủ nước.

2.4.2 Trường hợp viêm vú:

  • Vệ sinh bầu vú sạch sẽ, tiến hành nặn sạch sữa viêm ra ngoài; vệ sinh hai chân sau hang ngày.
  • Xoa bóp vú viêm và lau sạch với nước ấm.
  • Bấm răng heo con, cho heo con bú sữa đầu và cố định đầu vú phân đều cho từng heo con
  • Có thể sử dụng kháng sinh Ampicilline trihydrate, Marbofloxacin, …
  • Tiêm Oxytocin với liều thấp (2-5 UI/ nái), nhiều lần trong ngày để giúp vú tiết sữa (thời gian bán hủy 6-7 phút, cấp 2-4 giờ/lần).
Vệ sinh sát trùng chuồng đẻ và tắm rửa vệ sinh nái sạch sẽ trước khi đưa vào chuồng đẻ.
Bảo đảm vệ sinh nguồn nước uống và thức ăn. Cho nái uống đủ nước trong giai đoạn nái mang thai khoảng 20lít/ nái/ ngày và trong giai đoạn tiết sữa nuôi con từ 35 - 50lít nước/ nái/ ngày

3. Các nghiên cứu về MMA

Theo nghiên cứu (Bilkei G, Horn A., 1991) cho thấy sử dụng Ampicillin trihydrat 300mg/kg + 200ml dung dịch nước muối vô trùng 1 lần/ngày trong 3 ngày cho thấy tỷ lệ tử vong trên heo viêm tử cung giảm đáng kể so với sử dụng tiêm bắp Ampicillin trihydrat liều 50mg/kg.
Theo nghiên cứu (AC Hirsch, H. Philipp vàR. Kleemann, 2003) so sánh hiệu quả của meloxicam và flunixin trong điều trị hội chứng viêm vú trong bệnh MMA. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về hiệu quả lâm sàng giữa hai loại thuốc. Nhưng sử dụng meloxicam cho tỷ lệ tử vong giảm thấp hơn so với sử dụng flunixin, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P≤0.05).

Theo nghiên cứu (van Gelder KN1, Bilkei G., 2005) cho thấy việc kích hoạt các phản ứng miễn dịch tế bào ở heo mẹ bị MMA ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng của heo con theo bú với nồng độ cortisol trong huyết thanh tăng cao.

Nghiên cứu chứng minh hiệu quả của enrofloxacin trong điều trị MMA (Acta Vet. Brno 2006)
Một nghiên cứu (Krieter, J. ; Presuhn, U., 2009) về biến đổi gen trong điều trị MMA. Kết quả ủng hộ giả thuyết cho rằng chọn lọc giống có thể làm giảm tỷ lệ mắc MMA trên heo nái.


Nguồn: Vetshop VN



Đăng ký nhận bài viết qua Email!

In bài nàyIn bài này Tải xuống dạng PDFTải định dạng PDF


Bản tin mới nhất

Quy trình chăn nuôi

 
Trang chủ | Hướng dẫn | Thanh toán | Vận chuyển | Bảo hành | Đổi - Trả | Về đầu trang ↑
Bản quyền nội dung trên trang thuộc vềVetshop.VN® 2013
Để tôn trọng quyền tác giả, xin ghi rõ tên tác giả và nguồn bài viết khi phát hành lại thông tin trên trang này.
Bản tin chăn nuôi | Chăm sóc chó mèo | Chẩn đoán bệnh | Bệnh trên heo | Bệnh chó mèo | Bệnh gà | Bệnh trâu bò
Sản phẩm chăn nuôi | Thuốc thú y | Dụng cụ chăn nuôi | Thiết bị thú y | Tài liệu chăn nuôi thú y | Sản phẩm cho chó mèo
Quy trình chăn nuôi | Kỹ thuật thú y | Nuôi thú cưng | Thiết bị chuồng trại | Dụng cụ thú y | Kỹ thuật chăn nuôi | Sách chăn nuôi thú y