Viêm Tử Cung Ở Chó Và Phương Pháp Điều Trị

Bithches with pyometra and results of treatment
  • Tỷ lệ phát hiện bệnh viêm tử cung giữa khám lâm sàng so với kỹ thuật siêu âm chiếm tỷ lệ khá cao là 68,74%.
  • Bệnh viêm tử cung ở chó cái có một số biểu hiện lâm sàng đặc trưng dễ phát hiện, điều này rất có ý nghĩa đối với những cơ sở điều trị chưa được trang bị máy siêu âm. Tuy nhiên có một số chó bị viêm tử cung nhẹ chưa có biểu hiện lâm sàng đặc trưng thì khó phát hiện bằng cách khám lâm sàng.
  • Theo nghiên cứu thì tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở nhóm chó ngoại cao hơn nhóm chó nội. Lí do có lẽ tỷ lệ bệnh cao ở nhóm chó ngoại là do những chó ngoại phần lớn có giá trị kinhh tế cao, thường được nuôi nhốt trong căn hộ, được người nuôi quan tâm nhiều hơn và dễ phát hiên bệnh.

Bệnh PED ( Porcine Epidemic Diarrhoea) Trên Heo Và Cách Xử Lý

Thông tin chung về bệnh PED 
Bệnh do một Coronavirus gây ra (cùng họ với virus TGE), bệnh khá phổ biến trên heo. Virus tấn công vào hệ nhung mao ruột làm giảm bề mặt hấp thu, dẫn đến mất nước và mất chất dinh dưỡng. Có 2 chủng virus PED
  • Chủng PED 1: chỉ nhiễm trên heo trong giai đoạn tăng trưởng
  • Chủng PED 2: nhiễm trên tất cả các loại heo, kể cả heo nái trưởng thành​

Bệnh Lở Mồm Long Móng (FMD - Foot and Mouth Disease)

Bệnh lở mồm long móng trên là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây lan rất nhanh và rất mạnh, rộng cho nhiều loài gia súc, loài nhai lại, heo và người. Bệnh do virus hướng thượng bì, sự thủy hóa các tế bào thượng bì sẽ hình thành các mụn nước ở niêm mạc miệng, lưỡi, da, móng…. Bệnh gây tổn thất lớn về kinh tế và thiệt hại về đàn giống sinh sản.

Nguyên nhân: 
Do virus thuộc giống Aphthovirus, họ Picornaviridae có 7 type virus gây bệnh lỡ mồm long móng: O, A, C, S.A.T–1, S.A.T- 2, S.A.T- 3 và ASIA-1.

Hiện nay ở nước ta có 3 type gây bệnh là A, O, ASIA-1, gây triệu chứng và bệnh tích như nhau nhưng không gây miễn dịch chéo. Nếu heo sau khi khỏi bệnh thì được miễn dịch trong thời gian tương đối lâu là 1-2 năm.

Sự Tương Tác Giữa Bệnh PRRS Và PVC2 Trong Trại Heo

Marian Porowski
Tomasz Stadejek 
Mô tả trại heo
Một trại mới thành lập ở miền nam Hà Lan với quy mô 900 nái, được nuôi từ khi đẻ đến khi xuất bán (PCV2 dương tính). Trại này tự cung cấp hậu bị thay đàn. Heo nái được tiêm các loại vaccine: Đóng dấu lợn, E.coli và Parvo. Heo con được cai ở 3 tuần tuổi. 

Dịch PRRS. 
Kiểm tra huyết thanh học định kỳ cho thấy trại này không bị nhiễm PRRS trong vòng 7 tháng. Sau đó, trên nái xảy ra các dấu hiệu về thành tích sinh sản kém. Tỉ lệ đậu thai giảm từ 89,3% xuống còn 62%, Heo con chết ngợp tăng từ 2,8% lên đến 6,4% (bảng 1a). Tỉ lệ thụ thai kém, xuất hiện giai đoạn chuyển hóa huyết thanh học, kết quả kiểm tra chẩn đoán phân biệt gián tiếp ELISA cho thấy heo bị nhiễm PRRS chủng châu Âu.

Vi Khuẩn Kháng Kháng Sinh: Do “Kiếm” Cũ Đã Cùn?

Từ khi nhà sinh học Alexander Fleming (1881-1955) phát kiến penicillin vào năm 1928 và bào chế thành thuốc vào năm 1943, nhân loại đã hoan hỉ bởi sự huy hoàng của "kỷ nguyên kháng sinh".

Tiếp sau Fleming, nhiều nhà khoa học đã nô nức chạy đua trong việc nghiên cứu, tìm tòi các chủng loại kháng sinh khác và đã có nhiều phát minh được công bố. Từ đó đến nay, con số kháng sinh được nghiên cứu đã lên tới trên 5.000 và đã có gần 1.000 loại kháng sinh bán ra trên thị trường thế giới.

Nhiều loại kháng sinh cũ dần mất hiệu lực trước vi khuẩn
Dần dần nhiều người dễ dàng nhận ra những kháng sinh nổi danh một thời thì nay tác dụng trị liệu đã giảm sút nhiều. Hình như các vi khuẩn gây bệnh đã có thời gian chỉnh đốn đội ngũ, rèn luyện vũ khí để chống thuốc kháng sinh khiến cho nhiều loại kháng sinh mất dần hiệu lực. Tựu trung vi khuẩn có hai miếng võ hiểm, đó là:

Sự đột biến, chọn lọc tự nhiên: Đây là sự biến đổi tự nhiên xảy ra ở trong nhiễm sắc thể của vi khuẩn. Các vi khuẩn đều phụ thuộc vào môi trường sống của chúng để tồn tại và phát triển, mỗi loài vi khuẩn phải có đầy đủ một bộ enzym để chiết ra các chất dinh dưỡng từ môi trường. Nếu môi trường sống bình thường bị thay đổi hay bị nhiễm độc, nhiều vi khuẩn sẽ chết vì thiếu enzym để thích nghi. Nhưng cũng có một số vi khuẩn có khả năng thích nghi với môi trường bằng cách đột biến sản sinh ra những enzym mới phù hợp với hoàn cảnh.

Hình ảnh mô tả sự kháng thuốc của vi khuẩn

Dưới tác dụng của một liều kháng sinh đặt vi khuẩn vào tình thế chết, đa số vi khuẩn bị tiêu diệt, nhưng cũng có một số ít thoát chết, sẽ tồn tại và phát triển theo nguyên lý chọn lọc tự nhiên của Darwin (1809-1892). Do biến đổi trong cấu trúc của ADN (sự biến đổi này xảy ra ở trong nhiễm sắc thể của vi khuẩn) sẽ làm thay đổi cấu trúc các phân tử protein hoặc enzym mà chúng tổng hợp ra. Nếu các phân tử này là đích tác dụng của một kháng sinh nào đó thì làm cho kháng sinh này không còn tác dụng nữa vì bị mất đích tác dụng. Sự đề kháng này là vững bền và vi khuẩn có thể truyền lại cho các thế hệ sau. 

Plasmid - "vũ khí" đặc biệt của vi khuẩn: Plasmid không có ở các sinh vật khác. Tất cả các loài vi khuẩn dù hình tròn (cầu khuẩn), hình thẳng dài (trực khuẩn), hoặc uốn éo như lò xo (xoắn khuẩn)... đều có một điểm chung: đó là một cái vỏ (màng tế bào) bên trong chứa bào tương và một nhân tế bào. Trong nhân tế bào có nhiễm sắc thể và ADN. ADN mang trong nó những tính chất di truyền cần thiết cho sự tái sinh và sự dinh dưỡng của vi khuẩn. Từ năm 1958, Jacob và Wollman thấy vi khuẩn còn có các cấu trúc ADN nằm ngoài nhân và sao chép độc lập với nhân, gọi là episom. Episom có 2 vị trí: một ở ngoài nhiễm sắc thể và một sáp nhập vào nhiễm sắc thể. Các episom không bao giờ sáp nhập vào nhiễm sắc thể được gọi là plasmid. Bản chất các plasmid này là những phân tử ADN rất nhỏ (chứa ít gen), có hình vòng (chứ không phải hình que như những nhiễm sắc thể thông thường), có kích thước chỉ 0,5 - 5% kích thước của nhiễm sắc thể thông thường, phân bố tự do trong bào tương. Sự sản sinh các enzym chống lại thuốc kháng sinh do các plasmid này phụ trách. Trong quần thể vi khuẩn, các plasmid được truyền từ vi khuẩn này sang vi khuẩn khác theo kiểu bơm do thực khuẩn thể (kiểu phage) hoặc hợp nhất 2 vi khuẩn chuyển những yếu tố di truyền gen chống kháng sinh, làm số lượng vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh tăng nhanh. Năm 1941, tất cả các tụ cầu khuẩn vàng (staphylococcus aureus) gây bệnh dễ bị diệt bởi kháng sinh penicillin, nhưng chỉ 3 năm sau tụ cầu khuẩn đã trở nên kháng thuốc bằng cách sản sinh ra một loại men (enzym) penicilase phân hủy phân tử penicillin. Một số vi khuẩn khác tiết ra enzym beta lactamase để chống kháng sinh ampicilin... hoặc acetyl transferase để chống với chloramphenicol. Càng ngày càng có nhiều loài vi khuẩn chống đỡ được với nhiều loại thuốc kháng sinh. Theo một thông báo của dự án điều tra tính kháng thuốc của vi khuẩn của Bộ Y tế, ở Việt Nam, S.aureus đã kháng gentamycin với tỷ lệ 51,6%, kháng norploxacin với tỷ lệ 65,7%. E.Coli đã kháng cotrrimoxazol với tỷ lệ 79,3%, kháng cloramphenicol 52,6%; P.aeruginosa kháng cefotaxim 77,3%, kháng amikacin 64,7%. Thậm chí một tài liệu nước ngoài còn cảnh báo vi khuẩn cũng đã kháng lại vancomycin, một loại kháng sinh được coi là hiệu lực nhất hiện nay chỉ dùng khi các kháng sinh vô hiệu.

Cuộc chiến đang tiếp tục
Binh chủng kháng sinh tuy còn đông về số lượng, nhưng sức chiến đấu ngày càng suy giảm, đó là nỗi lo không của riêng ai. Hai nhà khoa học Mỹ, Pandolph Nesse và George Williams (những người sáng lập Bộ môn y học Darwin) đã viết trong cuốn sách Tại sao chúng ta ốm như sau: "... Không bao giờ loài người có thể chiến thắng được những thực thể vi mô. Chúng ta yếu ớt hơn các loài vi khuẩn và siêu vi khuẩn rất nhiều, vì chúng có khả năng sinh sản cực kỳ nhanh. Quá trình tiến hóa của vi khuẩn trong một ngày có thể trải qua những bước phát triển mà con người cần tới hàng ngàn năm". Một báo cáo chính thức của WHO công bố giữa tháng 6/2000 cũng khẳng định, nếu không có biện pháp hiệu quả thì chỉ trong vòng 20 năm tới, không còn một thứ thuốc kháng sinh nào có hiệu lực nữa. Tuy nhiên, sự xuất hiện tính kháng sinh, chủ yếu lại là do con người đã lạm dụng kháng sinh trong điều trị và phòng bệnh, trong đó phải tính đến cả việc sử dụng kháng sinh cho gia súc chăn nuôi một cách bừa bãi. Vì vậy, sử dụng kháng sinh hợp lý luôn là một vấn đề thời sự.

Do tính quyết liệt vi khuẩn chống kháng sinh, nhiều nhà khoa học đang có nhiều cố gắng tìm hiểu mật mã di truyền chống kháng sinh của vi khuẩn. Những ý kiến lạc quan nhất thì cho rằng: loài người với trí thông minh tuyệt vời sẽ hạ gục vi khuẩn. Với công nghệ sinh học phân tử hiện đại, người ta có thể tách những mẫu gọn xác định và nhận ra được những mảnh plasmid có mang yếu tố chống đối với một kháng sinh này hoặc kháng sinh khác. Những mảnh plasmid cắt nhỏ ra như thế lại có thể hàn gắn lại bằng cách bù thêm vào hai đầu. Như vậy là có thể tái tạo một plasmid từ những mảnh của nó và qua đó có thể tạo ra những plasmid kỳ dị qua việc lai tạo các ADN thuộc 2 plasmid của 2 vi khuẩn khác nhau, rồi lại ghép sản phẩm thu được vào một vi khuẩn khác. Dựa vào tính phổ biến của quy luật di truyền, người ta đã đề cập đến việc tạo ra những plasmid mới lạ từ những vi khuẩn rất khác nhau nhằm vô hiệu hóa khả năng chống kháng sinh. Mặt khác, bằng cách phóng cực to các "nhà máy" sản xuất protein của tế bào giúp hiểu rõ cơ chế phiên mã di truyền thành protein, qua đó mà hiểu được các tác dụng của nhiều loại kháng sinh và cơ sở một số kiểu kháng thuốc của vi khuẩn. Mục đích sâu rộng nhất của các điều nói trên là tìm hiểu mật mã di truyền sản xuất enzym chống các kháng sinh của vi khuẩn, để tìm cách vô hiệu hóa tính kháng thuốc hoặc để tìm ra kháng sinh mới đặc biệt có hiệu lực cao mà vi khuẩn rất khó kháng thuốc.
BS. Vũ Hướng Văn

Hệ Cơ Và Hệ Xương Của Gia Cầm

1. Hệ xương
Các phần của hệ xương gia cầm tương ứng như các động vật khác. Cánh gà tương ứng với cánh tay và bàn tay ở động vật bậc cao, cẳng chân và ngón chân tương ứng cẳng và ngón chân ở động vật, xương bàn chân của gà là sự nối tiếp và kéo dài ra từ xương chân của động vật.

Hình 1.2. Sơ đồ bộ xương gà
1  Xương đầu; 2  Xương cổ; 3 - Cột sống; 4  Xương lưỡi hái; 5  Xương cánh; 6  Xương đùi; 7  Xương cẳng; 8 Xương bàn chân; 9 Xương ngón chân;

Bệnh Đậu Gà ( Trái Gà - Powl Pox)

Gà bị bệnh đậu gàBệnh đậu gà (Powl Pox) hay còn gọi là "bệnh trái gà''. Bệnh do virus gây nên với đặc tính nổi những mụn sần sùi ở trên da, mào, tích và trong miệng, trên mũi làm cho gà không ăn được, tăng trọng giảm và chết. Bệnh có ở hầu hết các nước trên thế giới. Đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.

I. Động vật Cảm thụ:
Gà và phần lớn hoang dại ở các lứa tuổi đều mẫn cảm với bệnh.

II. Nguyên nhân:
Do một loại virus thuộc nhóm Poxvirus. Có một số chủng khác nhau về khả năng gây bệnh cho các loài gia cầm khác nhau.

Viêm Phổi Phước Hợp Trên Heo

Viêm phổi phức hợp là thể viêm phổi cấp tính, thường gây chết trên heo với các đặc điểm: heo đột ngột sốt cao, rất khó thở. Bệnh thường xảy ra trên heo sau cai sữa, heo nuôi thịt hoặc xảy ra trên cả heo nái, heo nọc. Heo mắc bệnh có thể chết trong vòng 24 giờ kể từ lúc phát bệnh hoặc chết sau đó vài ngày.

1. Nguyên nhân gây bệnh:
Bệnh xảy ra do hệ thống phòng vệ đường hô hấp bị tổn thương do nhiễm trùng nguyên phát kết hợp với điều kiện nuôi dưỡng kém gây mất khả năng đề kháng từ đó đường hô hấp trở nên mẫn cảm với các vi khuẩn gây viêm phổi.

Tổng Quan Kỹ Thuật PCR (Polymerase Chain Reaction)

GIỚI THIỆU
Phương pháp PCR (Polymerase Chain Reaction) được Kary Mullis và cộng sự (Mỹ) phát minh năm 1985 và kể từ đó đã tạo nên một tác động to lớn đối với các nghiên cứu sinh học trên toàn thế giới. Ý tưởng của Mullis là phát triển một quy trình mà DNA có thể nhân lên nhiều lần một cách nhân tạo qua nhiều chu kỳ sao chép bởi enzyme DNA polymerase.

DNA polymerase hiện diện tự nhiên trong sinh vật sống, thực hiện chức năng nhân bản DNA khi tế bào phân chia. Enzyme này làm việc bằng cách liên kết với sợi DNA mạch đơn và tạo mạch DNA bổ sung. Theo quy trình PCR gốc của Mullis, enzyme phản ứng nhân bản DNA được thực hiện trong ống nghiệm (in vitro). Sợi DNA đôi bị tách thành 2 sợi đơn khi đun nóng ở 96°C, sau đó sự tổng hợp mach đôi của DNA sẽ xảy ra nhờ họat tính của enzyme DNA polymerase. Tuy nhiên, ở nhiệt độ cao, DNA polymerase bị phá hủy, vì vậy cần bổ sung enzyme sau mỗi giai đoạn nung nóng của mỗi chu kỳ. Quy trình PCR gốc của Mullis không có hiệu quả cao vì nó mất nhiều thời gian, cần một lượng lớn DNA polymerase, và liên tục phải lưu ý trong suốt quá trình PCR. Sau đó, quy trình gốc này được phát triển hơn với sự ứng dụng DNA polymerase lấy từ vi khuẩn ưa nhiệt (Thermophilic bacteria) sống trong mạch nước nóng ở nhiệt độ trên 110°C. DNA polymerase từ sinh vật này ổn định ở nhiệt độ cao và khi dùng trong PCR nó không bị phá hủy khi hỗn hợp được nung nóng để tách sợi DNA. Từ đó, không cần phải thêm DNA polymerase vào mỗi chu kỳ, quá trình sao chép DNA có thể đơn giản và tự động hơn. Một trong những DNA polymerase chịu nhiệt đầu tiên được phân lập được từ Thermus aquaticus và được gọi là Taq. Taq polymerase là enzyme được dùng rộng rãi trong thực nghiệm PCR.

Hội Chứng Stress Ở Lợn ( gen Hal)

Giới thiệu
Lợn là loại động vật thông minh và nhạy cảm. Gặp điều kiện bất lợi nó có thể rơi vào hội chứng stress. Lợn bị ảnh hưởng của hội chứng này thịt trông tái nhợt, mềm và rỉ nước (gọi là hiện tượng PSE). Chúng có thể bị chết bất thình lình khi đang bị stress. Thịt lợn khi bị hiện tượng PSE có màu xám (nhợt nhạt), thiếu độ cứng và mất độ ẩm (do bị rịn nước ra ngoài). Thịt này sẽ khó bán do mất tính hấp dẫn đối với khách hàng. Đồng thời thịt này cũng không phù hợp để làm xông khói và giăm bông do khả năng giữ nước kém. Người nông dân sẽ bị thiệt hại về tiền của nếu lợn của họ mắc phải hội chứng này và bị chết.

Bệnh Đóng Dấu Son Trên Heo (Erysipelas suis)

Bệnh đóng dấu lợn (Erysipelas suis) hay còn gọi là bệnh dấu son là một bệnh truyền nhiễm xảy ra nhiều ở lợn 3-4 tháng tuổi, với những biểu hiện bệnh tích đặc trưng nổi cộm dưới da: những mảng xung huyết màu đỏ, hình vuông, tròn hay hình quả trám.

1. Nguyên nhân gây bệnh: Do Erysipelothrix rhusiopathiae gây ra, là trực khuẩn nhỏ, thẳng có khi hơi cong, không di động, không hình thành nha bào, giáp mô, bắt màu Gram dương. Trực khuẩn đóng dấu lợn có sức đề kháng khá cao, trong phủ tạng xác chết có thể sống 4 tháng, trong điều kiện ẩm và tối ở 370C sống không quá 1 tháng còn khi ở môi trường bên ngoài có ánh sáng mặt trời sống được 12 ngày. Trong canh trùng ở 70 độ C sống được 5 phút, môi trường NaOH 5%, axit phenic 1% vi khuẩn bị diệt nhanh chóng. 

Trực Khuẩn Listeria Gây Bệnh Cho Heo Và Người Như Thế Nào ?

Will Dunham - Reuters
Listeria là một loại trực khuẩn ngắn gây bệnh sốt và sẩy thai ở lợn. Listeria cùng họ với Rhupsia, vi khuẩn gây bệnh lợn đóng dấu - ND.

WASHINGTON (Reuters) - Các nhà khoa học đã phát hiện việc Listeria xâm nhập vào cơ thể như thế nào. Listeria sau khi vào các bộ phận trong cơ thể, đã gây nên đau ốm và đôi khi làm chết người, nếu người đó ăn phải thực phẩm bị nhiễm Listeria, như phomat mềm, xúc xích nóng.

Khi nghiên cứu trên chuột lang và chuột nhắt đã biến đổi gen, các nhà khoa học Viện Pasteur Paris đã chứng minh rằng trực khuẩn này (còn có tên là Listeria monocytogenes) có một protein (protein này rất giống một cái chìa khoá mở ổ khoá) tương tác với thể tiếp nhận trong ruột để đi vào trong máu.

Bệnh Cúm Heo ( Swine Influenza)

GS-TS Lê Văn Năm
Giới thiệu bệnh
Bệnh cúm là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm không những cho lợn mà cho cả loài người, virus cúm typ A thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra ở mọi lứa tuổi lợn, nhưng nặng nhất và chết nhiều nhất là lợn từ 1 - 5 tuần tuổi.

Lịch sử bệnh cúm lợn
Trên thế giới, bệnh cúm lợn là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, gây ra do các virus cúm thuộc typ A (như H3N2, H1N1..) lây lan rất nhanh, được phát hiện lần đầu tiên ở vùng Bắc nước Mỹ (1918), từ đây lây lan sang một số nước thuộc Bắc Mỹ và thế giới. Bệnh đã lây sang người và phát triển thành đại dịch cúm ở một số quốc gia vào năm 1918 gây chết hàng chục triệu người.

Câu Chuyện Nuôi Bò Tự Nhiên Ở Uruguay

Uruguay có ngành chăn nuôi bò tự nhiên lâu đời. Thịt bò Uruguay vừa ngon lại an toàn, ngoài tiêu thụ trong nước còn xuất khẩu ra hơn 100 nước trên thế giới.

Với hàng loạt những scandal gần đây của ngành công nghiệp thực phẩm thế giới và nhu cầu sử dụng thịt bò và các sản phẩm từ thịt bò ngày càng tăng do sự gia tăng dân số thế giới, người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi và đặt yêu cầu về độ tin cậy của sản phẩm thịt bò.

Uruguay, với truyền thống lâu đời của ngành sản xuất và xuất khẩu thịt, tự hào đảm bảo với khách hàng của mình 100% truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Quốc gia Mỹ Latin này hiện xuất khẩu 80% sản phẩm thịt của mình tới hơn 100 quốc gia trên khắp thế giới, trong đó Trung Quốc, EU, Bắc Mỹ và Nga là những thị trường chủ đạo.

Bệnh Giả Dại Trên Heo ( Aujeszky's Disease)

GS.TS Lê Văn Năm
1. Giới thiệu bệnh
Bệnh giả dại hay còn gọi là bệnh Aujeszky (Morbus Aujeszky). Đây là một bệnh truyền nhiễm của lợn xảy ra ở dạng cấp tính với tỷ lệ chết cao ở lợn con và đôi khi không có triệu chứng lâm sàng điển hình hoặc với một vài triệu chứng thần kinh ở lợn sau cai sữa đến 3 tháng tuổi. Đối với lợn trưởng thành, bệnh xảy ra giống như bệnh cúm với các triệu chứng của viêm phổi.

2. Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh do một loại virus chứa AND thuộc nhóm Herpesviridae có sức sống dẻo dai. Trong điều kiện đông lạnh hoặc sấy khô, virus có thể tồn tại đến một năm. Ánh sáng mặt trời trực tiếp giết chết virus giả dại trong vòng 6 - 7h, nhiệt độ 100 độ C sau 30 giây, 70 độ C sau 15 phút, 60 độ C sau 1h. Trong thức ăn, virus giữ hoạt lực trong vòng 40 ngày, ở trên mặt đất từ 6h đến 5 ngày, trong xác gia súc thối rữa 10 – 28 ngày, trong xác gia súc không bị thối rữa 8 – 175 ngày.

Vai Trò Của Enzyme Trong Chăn Nuôi

Trong chăn nuôi hàng hoá, nhà sản xuất khai thác tối đa khả năng sinh lợi, mang lại hiệu quả kinh tế của vật nuôi. Để giúp vật nuôi tiêu hóa tốt thức ăn, tăng trọng nhanh, hạn chế các tác động bất lợi có trong nguyên liệu thức ăn thì xu hướng chung hiện nay người ta bổ sung thêm vào thức ăn các enzyme công nghiệp. Có rất nhiều công trình nghiên cứu cho thấy vai trò tích cực của enzyme trong ngành chăn nuôi; đặc biệt là đối với chất xơ, phytate có trong cám gạo và ảnh hưởng tích cực đối với môi trường.

Bệnh Của Mèo Lây Sang Người (Toxoplasmosis)

1. Căn bệnh
Bệnh Toxoplasmosis do đơn bào Toxoplasma gondii thuộc lớp Sporozoasida, ngành Apicomplexa gây ra. Mầm bệnh được tìm thấy năm 1908 trên động vật gặm nhấm ở châu Phi.

Hình thái 
Toxoplasma gondii (Nicolle & Manceaux, 1908). Oocyst có hình cầu kích thước 11–14 x 9–11 m. Oocyst không có lỗ noãn, thể cặn, hạt cực và chứa hai Sporocyst hình elip, kích thước 8,5 x 6 m, không có thể stieda, có thể cặn. Sporozoite có kích thước 8 x 2 m. Oocyst có thể tồn tại ở môi trường bên ngoài hàng năm, bị tiêu diệt ở nhiệt độ 70oC trong dung dịch iodine và ammonia. Nuôi cấy ở môi trường bào thai gà Toxoplasma phát triển tốt. 

Điều Khiển Động Dục Bằng Hocmon Sinh Dục

I. Một số hóc-môn và chế phẩm chủ yếu trong điều khiển sinh sản
1. Các loại hóc-môn sinh sản chính
a. Gonadotropin releasing hormone (GnRH)
GnRH là hocmon được tiết ra từ các neuron của vùng dưới đồi (Hypothalamus) có tác dụng kích thích tuyến yên tăng cường tiết các hóc-môn gonadotropin (FSH và LH) để kích hoạt và tăng cường sự phát triển của tế bào trứng, sự rụng trứng và sự hình thành thể vàng. Ngoài cơ chế tác dụng thuận chiều, GnRH còn đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát mối tác động ngược dương tính của estrogen để tăng cường tiết LH và kiểm soát mối tác động ngược âm tính của progesteron để bảo đảm sự tồn tại của thể vàng.

Phát Triển Chăn Nuôi Bền Vững Ở Việt Nam

I. VÌ SAO PHẢI PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG?
Do áp lực của tăng dân số và tốc độ đô thị hoá, do các sai lầm trong lựa chọn kỹ thuật, con người đang phải đối mặt với những thách thức to lớn. Tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, thiên tai xảy ra bất thường, bầu khí quyển, nguồn nước bị ô nhiễm nặng... đang đe dọa cuộc sống của mọi người. Hơn lúc nào hết đòi hỏi phải có những hành động kịp thời nhằm ngăn chặn đà suy thoái của môi trường sống

Đất nước ta đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Trong nông nghiệp, quá trình chuyển dịch kinh tế đang diễn ra sôi nổi ở khắp nơi trên đất nước. Làm thế nào để phát triển nhanh nhưng không tác động xấu đến môi trường, đến sinh hoạt bình thường của cộng đồng đang là mối quan tâm của toàn xã hội.

Ảnh Hưởng Của Vận Chuyển Và Stress Nhiệt Đến Tỷ Lệ Chết Phôi Ở Bò

Effects of Shipping and Heat Stress on Embryonic Mortality in Cattle
Sarah Fields và TS. George Perry-Đại học khoa học và động vật bang Nam Dakota nói rằng việc mất phôi thai là tổn thất kinh tế lớn nhất trong ngành chăn nuôi bò cái/bê, ảnh hưởng đến số lượng bò cái chửa có đẻ và tỷ lệ bê cai sữa.

Tỷ lệ thụ thai thường khoảng từ 90-100% khi tinh dịch xuất hiện lúc rụng trứng.Sự thụ thai thường diễn ra ở vị trí thích hợp. Thụ thai xảy ra, nhưng tỷ lệ chửa thường chỉ 70% khi phối giống tự nhiên hoặc nhân tạo.

Thiến Heo - Một Cái Nhìn khác

Bài của TS. Allen Harper, Khoa học gia chuyển giao công nghệ chăn nuôi  (Extension Animal Scientist ), Tidewater AREC và được xuất bản bởi Tổ chức chuyển giao  TBKT chăn nuôi bang Virginia. Thiến gia súc đực để nuôi lấy thịt là một việc làm từ rất lâu.

Tổng quan
Chăn nuôi vùng Bắc Mỹ, việc thiến lợn là công việc phổ thông cần thiết và chỉ có một vài lợn đực được lựa chọn là không bị thiến để làm  giống. Trong chăn nuôi lợn có 2 lý do chính về việc nuôi lợn thiến nhiều hơn là lợn đực giống. Lý do đầu tiên là hành vi. Lợn đực một khi đạt đến độ tuổi và kích cỡ cơ thể khi thành thục về tính, chúng có xu hướng trở nên hung hăng hơn với những con nhốt cùng và khó động vào hơn những con lợn thiến ở cùng độ tuổi và cân nặng. Lý do thứ 2 và có lẽ là lý do quan trọng nhất đó là thịt của lợn lòi gần thành thục về tính (nặng khoảng 200 pao – 1pao = 0.454 kg) gặp phải một vấn đề lớn về mùi vị và hương thơm, thường gọi là “lợn hoi”. Lợn hoi có mùi và hương vị khó ngửi đặc trưng mà người tiêu dùng có thể nhận ra khi nấu thịt của những lợn đực không thiến.

Bệnh Thiếu Canxi Và Photpho Ở Gia Cầm

Canxi và photpho là 2 nguyên liệu chủ yếu cho việc hình thành nên xương và vỏ trứng của gia cầm. Đồng thời, trong mô cơ thể canxi còn duy trì chức năng hoạt động của mô thần kinh, xúc tác quá trình đông máu, tăng hoạt động của mô cơ vân, cơ tim, cơ trơn, duy trì hoạt động của tế bào, tạo điện thế sinh học trên mặt bằng tế bào và xúc tác men trypxin trong quá trình tiêu hóa protein trong thức ăn. Còn photpho ngoài chức năng tạo xương nó còn tham gia vào thành phần axit nucleic, tham gia vào hệ thống men tiêu hóa tinh bột và mỡ, tham gia trong chất đệm của máu và làm trung gian cho điều hòa hoocmon (3', 5' - AMP) (3,5 adeno zinmonophotphat) với tác dụng tổng hợp protein, phân giải lipit, hoạt hoá các men khác nhau và tổng hợp Steroit.
Sự thiếu hụt canxi và photpho sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động trong cơ thể. Với đặc điểm rõ nhất là gia cầm bại liệt, đẻ non, đẻ giảm và tỷ lệ ấp nở thấp.

Hậu Quả Khó Lường Khi Nhiễm Ấu Trùng Giun Đũa Chó, Mèo

Giun đũa chó có tên khoa học là Toxocara canis, giun đũa mèo có tên khoa học là Toxocara cati. Ấu trùng của các loại giun này có thể bị nhiễm lạc chủ sang người và có khả năng di chuyển nội tạng để gây bệnh. Trường hợp bệnh nhân Lưu T.T. ở Thái Bình được Bệnh viện bạch Mai phát hiện tổn thương thần kinh trung ương do nhiễm ấu trùng giun đũa chó từ một nghi ngờ bị u não và những trường hợp khác tương tự xảy ra trước đây đã được các nhà khoa học cảnh báo. Vì vậy cần chủ động phòng ngừa để tránh hậu quả khó lường khi nhiễm ấu trùng giun đũa chó, mèo do tiếp xúc với chúng và môi trường sống bị ô nhiễm.

Đặc điểm của giun đũa chó, mèo Toxocara
Cũng như chó và mèo, giun đũa chó Toxocara canis và giun đũa mèo Toxocara cati hiện diện và tồn tại ở khắp mọi nơi trên thế giới nhưng giun đũa chó Toxocara canis thường gặp nhiều hơn. Giun đũa chó và giun đũa mèo trưởng thành dài trung bình bằng cỡ que tăm, sống trong ruột non của chó và mèo. Chúng đẻ trứng ở ruột và trứng theo phân thải ra môi trường bên ngoài. Các con chó và mèo khác sẽ bị nhiễm giun do nuốt phải trứng hoặc do chó, mèo mẹ truyền ấu trùng qua nhau thai hay qua sữa. Con người sống và sinh hoạt gần chó, mèo; nhất là trẻ em có thể bị nhiễm giun đũa chó, mèo do nuốt phải trứng của chúng qua tay bẩn hoặc ăn phải thức ăn có dính phân chó, mèo. 

Từ ruột người, các ấu trùng giun cũng tìm đường di chuyển nhưng vì gặp ký chủ bất thường nên chúng tạo ra phản ứng mạnh, các ấu trùng giun mất phương hướng và xâm nhập vào gan, phổi, các phủ tạng khác; thậm chí có thể xâm nhập vào cả não và mắt. Chúng kéo dài cuộc sống không có lối thoát trong một thời gian dài nhiều tuần, nhiều tháng để rồi chết và bị vôi hóa vì không thể hoàn thành được chu kỳ sinh học trong cơ thể người. Hiện tượng này được gọi là hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng (larva migrans). Tuy vậy nhưng tại Bệnh viện Cochin, Paris, Pháp vào năm 1974; Giáo sư Trần Vinh Hiển đã phát hiện một trường hợp hy hữu ở bệnh nhân châu Phi nghi bị nhiễm giun chỉ bạch huyết nhưng khi xét nghiệm đã tìm thấy trứng của giun đũa chó trong máu tĩnh mạch của người bệnh. Trường hợp bệnh ấu trùng giun đũa chó được phát hiện lần đầu tiên tại nước ta vào năm 1967 trên một bệnh nhân trẻ em điều trị ở Bệnh viện Nhi Đồng II, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó cho đến nay, nhiều trường hợp bệnh bị nhiễm ấu trùng giun đũa chó, mèo được chẩn đoán xác định ở cả người lớn và trẻ em, ở cả miền Bắc lẫn miền Nam. Tại Việt Nam, một nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành phố ghi nhận tỷ lệ mẫu đất bị nhiễm trứng giun đũa chó, mèo chiếm từ 5 đến 26% tùy theo từng vùng sinh địa cảnh. Mặc dù bệnh do nhiễm ấu trùng giun đũa chó, mèo ở người hiện diện ở khắp mọi nơi nhưng có tính chất lẻ tẻ. Bệnh do ấu trùng gây nên có đặc điểm quan trọng vì triệu chứng bệnh lý rất đa dạng, khó chẩn đoán xác định và điều trị cũng gặp nhiều khó khăn. 

Về mặt bệnh học, hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng được phát hiện ở mọi lứa tuổi, cả người lớn và trẻ em nhưng thường gặp ở trẻ em vì lứa tuổi này hay tiếp xúc, chơi đùa với chó, mèo thường xuyên hơn và ý thức vệ sinh cũng kém hơn. Thông thường, bệnh nhân chú ý đến tình trạng bệnh lý của mình do phát hiện những triệu chứng tổng quát có vấn đề như mệt mỏi, ăn mất ngon, thể trạng kém với sốt bất thường và bị dị ứng như hay nổi mẩn ngứa, nổi ban...

Hậu quả khó lường khi nhiễm ấu trùng giun Toxocara
Nhà khoa học Liu vào năm 1999 đã phân chia bệnh nhiễm ấu trùng giun đũa chó, mèo ra làm 3 thể bệnh là bệnh ở nội tạng, bệnh ở mắt và bệnh không điển hình.

Bệnh Toxocara nội tạng chủ yếu gặp ở trẻ em. Biểu hiện lâm sàng thường thấy là sốt kéo dài, ho và thở khò khè; bị phế quản - phế viêm, thiếu máu, gan to, tăng bạch cầu ái toan; xét nghiệm chẩn đoán huyết thanh có kết quả dương tính. Gan to là dấu hiệu thường gặp mặc dù bất kỳ cơ quan nào cũng có thể bị ấu trùng giun xâm nhập và gây bệnh. Tổn thương ở gan có hình ảnh dễ nhầm lẫn với ung thư di căn. Trong một số trường hợp, bệnh nhân có lách to hay nổi hạch, nổi mề đay và nốt ở dưới da. Thở khò khè là triệu chứng thường gặp của thể bệnh nội tạng; có thể bị hen suyễn nặng kèm theo tăng bạch cầu ái toan, viêm phổi, tràn dịch màng phổi, tăng bạch cầu ái toan trong dịch màng phổi, suy hô hấp. Trong những trường hợp khác thì thấy biểu hiện hội chứng Loeffler khá nổi bậc với các triệu chứng lâm sàng giống như bệnh lao gồm ho khan, đau ngực, bạch cầu ái toan tăng cao có thể lên đến 40% hoặc hơn; chụp phim X quang tim - phổi thấy có hình ảnh thâm nhiễm giống lao nhưng hình ảnh này tự mất đi sau từ 1 đến 2 tuần mà không cần điều trị. Xét nghiệm cận lâm sàng thấy bạch cầu ái toan trong máu tăng cao từ 70 đến 80%, bạch cầu đa nhân cũng tăng, tốc độ lắng máu và gamma globulin đều tăng. Đồng thời có thể có biểu hiện thương tổn ở khớp như đau nhiều khớp, đau ở một khớp, tổn thương da di chuyển, viêm các mạch máu nhỏ. Tổn thương ở hệ thần kinh trung ương hiếm gặp hơn nhưng có những biến chứng trầm trọng làm cho bệnh nhân bị yếu cơ, rối loạn cảm giác, co giật, hôn mê, động kinh, mất điều khiển vận động, cứng cổ, rối loạn tâm thần. Ngoài ra, một số trường hợp bệnh lý cũng hiếm gặp có thể xảy ra như viêm cơ, viêm mô dưới da, cổ trướng, viêm dạ dày, dãn cơ tim, có khối giả u ở tim gây đột tử. Đối với bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, có thể gặp thể bệnh ấu trùng giun lan tỏa gây nên những biến chứng nặng.

Bệnh Toxocara ở mắt gây ra do hội chứng ấu trùng giun di chuyển ở mắt. Bệnh thường gặp ở những trẻ lớn, không có những triệu chứng bệnh lý của ấu trùng giun nội tạng. Ở mắt, ấu trùng giun tình cờ bị giữ lại tạo ra một khối viêm thâm nhiễm tăng bạch cầu ái toan. Triệu chứng bệnh lý điển hình gồm giảm thị lực một bên, đau mắt, đồng tử trắng, lé mắt kéo dài nhiều tuần. Thường gặp nhất là u hạt võng mạc cực sau, dễ nhầm với ung thư võng mạc. Những biểu hiện bệnh lý khác thường gặp là viêm màng bồ đào, áp xe thủy tinh thể, viêm thần kinh giác mạc, có mủ trong tiền phòng. Thường chỉ một mắt bị bệnh, hiếm khi cả hai mắt đều bị tổn thương. Không có dấu hiệu tăng bạch cầu ái toan, gan to và các triệu chứng khác của hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng. Bệnh Toxocara không điển hình được chẩn đoán xác định bằng phương pháp huyết thanh miễn dịch để giúp phát hiện những bệnh nhân bị nhiễm ấu trùng giun nhưng có những triệu chứng không rõ ràng, không xếp loại được vào nhóm thể bệnh nội tạng và thể ở mắt. Bệnh nhân thường có những biểu hiện bệnh lý như đau bụng, ho, rối loạn giấc ngủ, kém phát triển tinh thần và thể lực, ăn uống kém, sốt, viêm hạch cổ... Trên thực tế, có nhiều trường hợp bệnh nhân có kết quả chẩn đoán huyết thanh dương tính nhưng không có triệu chứng lâm sàng và hầu hết đều có dấu hiệu bạch cầu ái toan tăng nhẹ. Chẩn đoán bệnh trong trường hợp thể bệnh không điển hình tương đối khó vì triệu chứng lâm sàng vô cùng đa dạng, có khả năng xảy ra ở nhiều cơ quan. Nếu bệnh nhân có hội chứng Loeffler hay triệu chứng thần kinh, gan..., có bạch cầu ái toan cao hoặc hơi cao thì cho người bệnh thực hiện chẩn đoán huyết thanh để phát hiện kháng thể kháng giun. Sau khi loại trừ các nguyên nhân khác trong tình huống bệnh nhân có kết quả chẩn đoán huyết thanh dương tính thì tác nhân gây bệnh có nhiều khả năng do ấu trùng giun đũa chó, mèo. Ngoài ra, có thể dùng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp CT scan (computerized tomography scan), chụp cộng hưởng từ MRI (magnetic resonance imaging) để tìm thương tổn ở não.

Chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh
Việc chẩn đoán xác định bệnh nhiễm ấu trùng giun đũa chó, mèo Toxocara thường khó khăn. Vì vậy cần kết hợp các yếu tố về lâm sàng, bệnh học, dịch tễ, cận lâm sàng, kết quả huyết thanh học, chẩn đoán hình ảnh và kết quả điều trị. Bệnh lý của bệnh này có thể nhầm lẫn với bệnh sán lá gan hoặc các bệnh lý đường gan mật. Trường hợp nếu có khối u trong mắt dễ nhầm lẫn với bệnh lý của các u độc tính võng mô. Tuy vậy, trên thực tế có thể căn cứ vào các dấu hiệu như bạch cầu ái toan tăng cao từ 60 đến 80% và kéo dài nhiều năm, sinh thiết gan ở các u hạt có thể tìm thấy ấu trùng giun; khảo sát yếu tố dịch tễ ghi nhận bệnh nhân thường là trẻ em hay chơi đùa với chó, mèo hoặc nghịch đất bẩn, ăn uống bị nhiễm bẩn; đồng thời phản ứng miễn dịch đối với kháng nguyên giun đũa chó, mèo cho kết quả dương tính. Về điều trị bệnh, có thể dùng thuốc thiabendazole với liều lượng từ 25 đến 50mg/kg cân nặng, dùng từ 7 đến 10 ngày kèm theo corticoide liệu pháp và thuốc kháng histamine. Thuốc thiabendazole có hiệu lực tốt nhưng có tác dụng phụ và gây mệt nhiều nên hiện nay các nhà khoa học khuyến cáo nên dùng thuốc albendazole với liều lượng 10mg/kg cân nặng mỗi ngày, thời gian điều trị thực hiện tùy theo biểu hiện bệnh lý và diễn biến của bệnh; có thể dùng từ 5 đến 28 ngày, trung bình khoảng 10 ngày; thuốc cho kết quả điều trị tốt, hiệu lực có thể đạt tới 96%. Việc phòng bệnh nhiễm ấu trùng giun đũa chó, mèo trong cộng đồng hiện nay cần phải đặc biệt quan tâm bì bệnh phân bố rộng rãi ở khắp nơi trên thế giới và Việt Nam. Trong những năm gần đây, kỹ thuật miễn dịch hấp phụ gắn men với kháng nguyên ngoại tiết - phân tiết từ ấu trùng giun giai đoạn 2 của giun đũa chó Toxocara canis được các nhà khoa học ứng dụng nên đã phát hiện nhiều bệnh nhân nhiễm ấu trùng giun ở cả trẻ em và người lớn. Phòng bệnh có hiệu quả nhất là tổ chức truyền thông giáo dục sức khỏe, tuyên truyền ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân, môi trường và thực phẩm cho các bậc phụ huynh để hướng dẫn trẻ em ăn ở vệ sinh, sạch sẽ. Không nên cho trẻ chơi đùa với chó, mèo vì rất dễ có nguy cơ bị nhiễm bệnh. Nếu có điều kiện, cần điều trị tẩy giun định kỳ cho chó, mèo nuôi ở trong nhà để làm hạn chế và giảm ô nhiễm môi trường sống.

Ngày 19/08/2013

Bệnh Viêm Phổi Trên Heo Do Mycoplasma

Bệnh viêm phổi do Mycoplasma, còn gọi là bệnh suyễn heo do vi khuẩn Mycoplasma hyopneumoniae (MH) gây ra. Đặc điểm của bệnh là ho kéo dài nhiều tuần, heo chậm lớn, sức kháng bệnh yếu. Nếu kết hợp với các vi trùng gây viêm phổi khác sẽ tạo nên tình trạng viêm phổi nặng với triệu chứng sốt cao, ho nhiều, khó thở. Mycoplasma được coi là nguồn gốc gây viêm đường hô hấp trên heo ở nước ta và các nước trên thế giới. Ở bài này sẽ trình bày tổng quan về đặc điểm, dịch tễ, cơ chế phát sinh, triệu chứng, phương pháp chẩn đoán, phương pháp phòng trừ, điều trị,… của bệnh này.

Những Thay Đổi Sinh Lý Của Heo Khi Trời Nóng

Khi nhiệt độ môi trường bên ngoài thay đổi, cần phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăn nuôi nhằm hạn chế tối đa stress để có thể duy trì năng suất sinh sản.

Đặc biệt vào lúc thời tiết nóng cộng với độ ẩm cao, bên trong trại không khí nóng cộng với độ ẩm gây stress trên heo dẫn tới năng suất sinh sản giảm. Vì thế cần loại trừ các nguyên nhân gây stress nêu trên. Nếu từ tháng 6 - 9 nái bị stress do nhiệt độ và độ ẩm cao, thì tỷ lệ đẻ ở tháng 1 năm sau sẽ giảm mạnh. Và heo con sinh ra khoảng thời gian này khi gặp thời tiết lạnh nếu sưởi ấm không kỹ thì tỷ lệ chuyển thịt sẽ thấp và từ tháng 4-7 số con xuất chuồng sẽ giảm. Vì thế, nhiệt độ môi trường có thể ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất trại.

Để giảm stress do nhiệt độ và nâng cao năng suất sinh sản ta cần nắm rõ những thay đổi sinh lý trên heo và cách quản lý vào thời kỳ này.

Circovirus Heo: Một Bệnh Đang Lên?

Tác giả : DVM Nguyễn thượng Chánh
Từ khoảng 5 năm trở lại đây, ngành chăn nuôi heo tại Bắc Mỹ đã phải gánh chịu nhiều thiệt hại quan trọng gây nên bởi loại Circovirus type 2 (PCV2)... Heo con (8-12 tuần tuổi) sau thời gian dứt sữa bị èo uột, ốm o gầy còm, nuôi không lớn, không tăng trọng, khi thì trắng bạch, khi thì vàng da. Tử số trung bình từ 4% đến 10%. Dạng cấp tính, thường xảy ra cho heo con, số heo con chết có thể lên đến 38%. Dạng mạn tính, thường tiếp nối theo ở giai đoạn heo tơ vỗ béo (grow finish). Trong giai đoạn cuối cùng nầy, tử số ít hơn nhưng heo vẫn èo uột không tăng trọng và chỉ đạt được trọng lượng khoảng 30kg trong khi những heo bình thường cùng lứa tuổi cân được 100kg một cách dễ dàng. Người ta gọi đây là hội chứng suy thoái gầy còm sau thời dứt sữa (Syndrome de dépérissement postsevrage, Post weaning multisystemic wasting syndrome PMWS). Danh từ hội chứng 30kg (The 30kg syndrome) cũng đôi khi được sử dụng để chỉ bệnh nầy.

Hội Chứng Viêm Da Suy Thận Ở Heo

Hội Chứng Viêm Da Suy Thận  ( PDNS: Porcine Dermatitis and Nephropathy Syndrome) là bệnh rất nguy hiểm khi nhiễm trên heo trưởng thành hay chuẩn bị xuất chuồng (8-18 tuần tuổi) và có thể bùng phát thành dịch lớn. Hiện nay, chúng ta vẫn chưa có kiến thức hiểu biết rõ ràng về bệnh, cách ngăn ngừa và điều trị bệnh mặc dù trong một vài trường hợp kháng sinh tỏ ra khá hiệu quả.

PDNS gây ra sự tử vong nhưng không phải là đặc điểm quan trọng nhất của bệnh. Vấn đề lớn nhất là bệnh có vẻ tương đồng về mặt bệnh lý với “Sốt Heo Cổ Điển” (CSF=Classical Swine Fever) và “Sốt Heo Châu Phi” (ASF=African Swine Fever). Năm 2000, tại Anh đã bùng phát bệnh, người ta tìm thấy chỉ có 16 trường hợp bị bệnh CSF nhưng hàng trăm trang trại có biểu hiện dương tính với CSF mà thực tế hầu hết chúng là PDNS.

Phát Hiện Hội Chứng Giảm Đẻ Ở Vịt Do BYD Virus

Một Flavivirus mới cùng loài TEMBUSU, bắt đầu từ tháng 4/2010, một dịch bệnh nghiêm trọng do virus đã lan rộng khắp các vùng chăn nuôi vịt ở Trung Quốc, ngay cả trong mùa thu, khi mà hầu như không có hoặc rất ít muỗi hoạt động ở miền Bắc Trung Quốc. Những giống vịt bị ảnh hưởng (bao gồm vịt Bắc Kinh, ngan và vịt trời thuần dưỡng hay Ma Ya) biểu hiện triệu chứng lâm sàng rõ nhất là giảm đẻ trứng. 

Nấm Men - Nguồn Protein Quý Của Động Vật Nuôi

Nấm men là một nhóm vi sinh đơn bào được loài người sử dụng từ hàng nghìn năm nay để sản xuất nước uống có cồn và làm bánh. Ngày nay những hiểu biết khoa học và công nghệ đã cho phép phân lập và sản xuất công nghiệp những chủng nấm men có những tính chất đặc biệt, thoả mãn ngày càng cao nhu cầu thực phẩm của con người.

Nấm men thực phẩm bao gồm nấm men bánh mì, nấm men bia, nấm men bia dinh dưỡng, nấm men rượu vang, nấm men rượu, nấm men probiotic, chiết chất nấm men, nấm men Torula, nấm men whey... Một số loại nấm men trên đây không những được sử dụng trong công nghiệp thực phẩm mà còn được dùng làm nguồn bổ sung protein rất quý cho gia súc, gia cầm và cá.

Vi Khuẩn Kháng Thuốc Liên Quan Đến Chăn Nuôi

Một nghiên cứu mới đây đã phát hiện thấy vi khuẩn kháng thuốc liên quan đến chăn nuôi gia súc trong mũi của công nhân ở trại chăn nuôi công nghiệp tại Bắc Carolina có sử dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi.

Vi khuẩn kháng thuốc đã được kiểm nghiệm là Staphylococcus aureus, thường được gọi là tụ cầu khuẩn, trong đó bao gồm siêu vi trùng MRSA (Staphylococcus aureus kháng methicillin). Chủng tụ cầu khuẩn thế hệ mới hiện đang xuất hiện ở những người gần gũi với vật nuôi và vì lý do này đã được đặt tên là tụ cầu khuẩn gắn với vật nuôi. Mặc dù tất cả những người liên quan trong nghiên cứu này có tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với gia súc, nhưng chỉ có công nhân chăn nuôi mang tụ cầu khuẩn kháng kháng sinh với nhiều đặc tính di truyền liên quan đến vật nuôi.

Hội Chứng Còi Cọc Ở Heo Con Sau Cai Sữa

1. Giới thiệu bệnh
Thông thường mỗi ổ lợn sau cai sữa thường thấy một vài con còi cọc chậm lớn. Nguyên nhân dẫn đến còi cọc, chậm lớn rất đa dạng. Trong một số trường hợp do yếu tố thể chất (di truyền) nên ngay từ khi mới sinh, lợn con đã không đủ sức mạnh cạnh tranh với những con khác cùng ổ đẻ để bú sữa mẹ lúc đầu và đẫn đến chậm lớn.

Một số con do kỹ thuật chăm sóc lợn sơ sinh của người chăn nuôi chưa đúng, chúng bị các yếu tố stress bất lợi tác động, trong đó các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió ảnh hưởng rất rõ lên cơ thể lợn sơ sinh. Nhưng đáng chú ý hơn là điều kiện vệ sinh ổ đẻ của nái đẻ không tốt làm cho lơn con bị chứng khó tiêu, tiêu chảy phân trắng… Thêm vào đó sự sai sót là các kỹ thuật chăm sóc lợn con lúc cai sữa cũng làm ảnh hưởng đến sức khỏe của đàn con sau này.

Bệnh Đầu Đen Trên Gà Và Biện Pháp Phòng Trị

1. Nguyên nhân
Bệnh do 1 loại đơn bào có tên khoa học là Histomonas Meleagridis ký sinh ở gan, dạ dày và ruột thừa ( manh tràng).

2. Phương thức truyền lây
Bệnh lây lan chủ yếu qua đường miệng: ăn uống phải trứng giun kim ( Heterakis Gallinae) có chứa Histomonas.

3. Đặc điểm dịch tễ
  • Gà từ 2-3 tuần tuổi đến 3-4 tháng dễ bị bệnh nhất, nhưng gà lớn hơn vẫn có thể bị bệnh.
  • Bệnh thường nổ ra vào những tháng nóng ẩm cuối xuân, hè và đầu thu, nhưng gà lớn bệnh nổ ra cả trong mùa đông.
  • Tất cả các loại giống gà đều có thể mắc bệnh, Gà Tây mẫn cảm nhất.

Các Bệnh Viêm Não Nguy Hiểm Trên Heo

PGS-TS Lê Văn Năm

I. Bệnh viêm não nhật bản B ở lợn (Swine Japanese B encephalomyelitis)
1. Giới thiệu bệnh
Bệnh viêm não Nhật Bản B được Fujia phát hiện lần đầu tiên năm 1993 tại Nhật với các hội chứng viêm não ở người và ở lợn. Sau đó bệnh phát hiện ở vùng Viễn Đông, Triều Tiên, Trung Quốc , Malaysia, Hồng Kông, Lào, Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ, Mianma…..

2. Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh gây ra do virus viêm não Nhật Bản B. Virus được xếp vào giống Flavivirus, họ Flavivudae được tách ra từ Togaviridae. Trong giống Flavivirus có 60 thành viên, trong đó có 3 thành viên liên quan đến viêm não Nhật Bản B cho người và động vật gồm:

Dịch Tả Heo Châu Phi ( African Swine Fever)

(Peste porcine Africaine, fiebre porcina Africana, maladie de Montgomery)

Định nghĩa
Bệnh dịch tả heo Châu Phi (ASF) là bệnh truyền lây qua ve (tickborn) và truyền nhiễm, sốt, toàn thân, do virus gây ra ở heo.

Nguyên nhân
Virus ASF là virus cỡ lớn (khoảng 200 nm) bao bọc bằng lipoprotein, đối xứng hai mươi mặt, DNA kết sợi kép. Trong nhiều năm, tác nhân gây bệnh này được phân loại là iridovirus (3), nhưng trong những năm gần đây đã nhận thấy có nhiều đặc điểm của poxvirus ; do đó, các nhà nghiên cứu đã đề xuất thiết lập một họ mới cho virus ASF (19).

 

Google+ Followers

Thông báo: Bạn đọc, khách hàng có yêu về kỹ thuật chuyên môn, tài liệu chuyên nghành hoặc sản phẩm của vetshop VN, xin liên lạc với chúng tôi tại vetshop.vn@gmail.com hoặc tại gian hàng trực tuyến của Vetshop VN. Rất mong được sự ủng hộ của các bạn, xin cám ơn! Find us on Facebook
Find us on Twitter
Find us on Youtube

Bình luận mới nhất


Design by : Free WordPress Themes | Lasantha - Premium Blogger Themes
Liên Hệ | Site Map | About | Trang Chủ | Back to top
Bản quyền Vetshop VN 2013 | Được cung cấp bởi VetVN Co., Ltd DMCA.com
Để tôn trọng quyền tác giả bài viết, xin ghi rõ nguồn Vetshop VN và tên tác giả khi phát hành lại mọi thông tin trên trang này.
Xem tốt nhất ở trình duyệt Google Chrome, Mozilla Firefox với độ phân giải 1024 x 768 pixel.